Uống rượu ở mức độ nào có thể hủy hoại lá gan của bạn?
1. Rượu và bệnh gan do rượu
Tỉ lệ tiêu thụ rượu ở Việt Nam hiện đang ở mức rất cao. Các rối loạn liên quan tới việc sử dụng rượu quá nhiều là rất thường gặp, chiếm ưu thế ở nam giới. Nếu chỉ nói riêng các bệnh lý về gan, thì việc lạm dụng rượu dẫn đến những hậu quả (thường xuất hiện tuần tự) như sau:
- Tình trạng gan nhiễm mỡ (trên 90%)
- Viêm gan do rượu (25%)
- Xơ gan rượu (15%)
Ung thư biểu mô tế bào gan cũng có thể tiến triển trên nền bệnh nhân xơ gan.
Sau khi uống, cồn trong rượu một phần được phân giải bởi hệ tiêu hóa, phần còn lại sẽ được chuyển hóa tại gan. Trong quá trình chuyển hóa cồn sẽ sinh ra các chất có khả năng gây tổn thương tới gan. Càng uống nhiều rượu, khả năng gây tổn thương gan càng lớn. Gan là cơ quan có khả năng bù trừ cao, những tổn thương nhỏ sẽ không gây ra ảnh hưởng gì nghiêm trọng, tuy nhiên những tổn thương có thể tích lũy dần song hành cùng quá trình lạm dụng rượu mà bản thân bệnh nhân không hề nhận ra. Nếu vẫn trong giới hạn bù trừ của gan, bệnh nhân sẽ không có dấu hiệu hay triệu chứng nào. Khi đã có biểu hiện ra ngoài rất có thể gan của bệnh nhân đã mất bù.
2. Uống rượu ở mức độ nào có thể ảnh hưởng đến gan
Thể tích cồn trong đồ uống được ước tính bằng cách lấy thể tích của đồ uống (đơn vị mL) nhân với số phần trăm cồn. Để tiến triển thành viêm gan, xơ gan, lượng tiêu thụ thường phải trên 60-80 g cồn mỗi ngày với thời gian trên 20 năm ở nam và 20-40g cồn mỗi ngày ở nữ. Nếu lượng tiêu thụ vượt quá 230g cồn mỗi ngày trong 20 năm thì nguy cơ hình thành xơ gan lên đến 50%.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng không hẳn tất cả những người lạm dụng rượu mạn đều hình thành và tiến triển các bệnh lý về gan. Khả năng và giới hạn tiêu thụ cồn trên mỗi cá thể là khác nhau, do đó tiêu chí về mức độ tiêu thụ cồn chỉ là một trong các yếu tố chính thúc đẩy bệnh lý gan do rượu.
Giới tính cũng là một trong những yếu tố chính đối với bệnh lý gan do rượu, bởi nữ giới dễ tổn thương hơn so với nam giới, ngay cả khi đã hiệu chỉnh theo kích thước cơ thể. Nữ giới sẽ bị tăng nguy cơ khi tiêu thụ lượng cồn chỉ bằng một nửa so với nam giới (từ 20g tới 40 g cồn). Nguy cơ ở nữ giới dễ tăng lên là bởi nữ giới có ít enzyme phân giải cồn dehydrogenase ở niêm mạc dạ dày hơn, do đó lượng cồn được chuyển hóa tại gan sẽ lớn hơn, gây tổn thương tới gan nhiều hơn.
Bệnh gan do rượu cũng có yếu tố di truyền, bởi bệnh thường xuất hiện ở các thành viên trong gia đình. Các yếu tố khác góp phần xuất hiện bệnh gan do rượu bao gồm uống bia rượu ngoài bữa ăn, gen, kém dinh dưỡng, thiếu vitamin A, E, tích lũy sắt ở gan (hemochromatosis), virus viêm gan C,...
3. Sự tiến triển của bệnh gan do rượu
Gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, và xơ gan thường được nhận định là các tình trạng riêng biệt, thể hiện sự tiến triển của bệnh gan do rượu, mặc dù trên thực tế các biểu hiện của chúng thường chồng lấn lên nhau:
3.1 Gan nhiễm mỡ
Đây là quá trình đầu tiên và là hậu quả thường gặp nhất của việc uống quá nhiều rượu. Tình trạng gan nhiễm mỡ có thể ngăn chặn và đảo ngược được (nghĩa là có khả năng hồi phục lại trạng thái bình thường). Chất béo tích tụ trong tế bào gan trông giống như những giọt hoặc túi triglyceride lớn, choán chỗ, thay thế cho bào tương của tế bào gan bình thường. Hiện tượng này thấy rõ rệt nhất ở các tế bào gan gần mạch máu. Kích thước gan phát triển lớn dần lên.
3.2 Viêm gan do rượu
Đây là tình trạng kết hợp của gan nhiễm mỡ, viêm gan lan tỏa và hoại tử tế bào gan (thường ở khu vực trung tâm), với các mức độ nghiêm trọng khác nhau. Các tế bào gan bị tổn thương phì đại với một hạt lớn tế bào chất (thoái hóa bong bóng) hoặc chứa các sợi protein nhỏ trong tế bào chất (thể Mallory hoặc thể trong suốt do rượu). Các tế bào gan bị tổn thương nghiêm trọng sẽ dần xuất hiện hoại tử. Tĩnh mạch trong gan và tĩnh mạch xoang bị hẹp lại. Xơ gan cũng có thể bắt đầu hiện diện.
3.3 Xơ gan rượu
Đây là giai đoạn bệnh gan tiến triển, được đặc trưng bởi sự xơ hóa và phá hủy cấu trúc gan bình thường. Số lượng chất béo hiện diện trong gan ở giai đoạn này có thể thay đổi rất khác nhau. Tình trạng viêm gan do rượu có thể vẫn còn xuất hiện. Để bù đắp lại những tổn thương đã xảy ra, quá trình tái tạo gan hình thành những nốt nhỏ (xơ gan nốt nhỏ). Tuy nhiên chính quá trình bù đắp này lại dẫn tới vòng xoáy bệnh lý, xơ hình thành ngày một nhiều và lan rộng, chia cắt các mô gan thành những nốt lớn (xơ gan nốt lớn).
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Ngoài căng thẳng và thói quen ăn nhiều thực phẩm có tính axit cao, vi khuẩn HP cũng là một nguyên nhân gây loét dạ dày.
Nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể làm tăng tình trạng viêm ở ruột và làm mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột, những điều này sẽ khiến cho bệnh Crohn trở nên nghiêm trọng hơn.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.





