Ứng dụng Ngân hàng mô trong lĩnh vực Chấn thương chỉnh hình - Bệnh Viện Việt Đức
Nguồn gân, xương tự thân
Có nhiều ưu thế do dễ lấy, chi phí thấp, dễ liền, ít nguy cơ lây nhiễm hay thải ghép. Tuy nhiên, nhược điểm là nguồn cung hạn chế, không thể lấy nhiều khi có nhiều tổn thương đồng thời cần sử dụng mảnh ghép, có thể để lại đau tại vị trí lấy, ít nhiều ảnh hưởng đến chức năng của phần gân, xương lấy đi để ghép.
Nguồn gân, xương đồng loại (allograft).
Với nhiều ưu thế đã được chứng minh như có thể chủ động được nguồn cung, dễ sử dụng với các kích thước phù hợp, người bệnh không phải chịu thêm các vết mổ tại vùng lấy gân, xương tự thân, thời gian phẫu thuật được rút ngắn…, nguồn gân, xương đồng loại được kỳ vọng mang lại nhiều lợi ích cho người bệnh.
Tuy nhiên, để có thể đưa vào ứng dụng các nguồn gân, xương đồng loại rộng rãi trong lâm sàng cần đòi hỏi một số yếu tố sau:
- Nguồn cung: thông thường sẽ được lấy từ người hiến tặng (từ phần chi thể của người bệnh sau cắt cụt) hoặc của người cho chết não.
- Qui trình xử lý: đòi hỏi nghiêm ngặt qua nhiều bước như loại trừ những trường hợp có các bệnh lây nhiễm (viêm gan, HIV, lao…), bảo đảm vô trùng tuyệt đối, hạn chế thải ghép…
- Qui trình bảo quản: các mảnh ghép gân, xương đồng loại phải được bảo quản phù hợp tùy theo từng vật liệu cụ thể như bảo quản đông khô hay lạnh sâu, dạng khối (khối lồi cầu đùi, đầu dưới xương quay…), dạng ống (đoạn xương dài) hay dạng mảnh ghép nhỏ, gân đơn thuần hay có cả xương…
Kỹ thuật bảo quản xương đồng loại:
- Bảo quản lạnh: Xương đồng loại giữ ở nhiệt độ thấp để tránh bội nhiễm và tránh sự phân huỷ của các enzyme. Nhiệt độ lạnh có thể khác nhau từ -40°C, -80°C, -196°C, với thời hạn bảo quản có thể lâu đến 5 năm. Chế độ làm lạnh phải đạt được các tiêu chuẩn: độ lạnh thấp, phải hạ nhanh và giữ cố định trong suốt thời gian bảo quản.
- Bảo quản đông khô: Xương ghép được khử nước trong môi trường chân không và ở nhiệt độ thấp. Độ ẩm trong xương sau khi đông khô phải dưới 5%. Chính vì vậy phương pháp này chỉ thích hợp với những miếng xương ghép có kích thước nhỏ.
Chỉ định ghép gân, xương đồng loại:
Ghép gân đồng loại:
- Thay thế gân bị tổn thương ở chi trên: gân gấp, gân duỗi bàn ngón tay
- Tạo hình những dây chằng vùng khớp: dây chằng cùng-đòn, quạ-đòn, dây chằng vòng của khớp quay-trụ trên, dây chằng bên trong, bên ngoài khớp gối, khớp cổ chân…
- Tái tạo những dây chằng trong khớp: dây chằng chéo trước, dây chằng chéo sau khớp gối.
Ghép xương đồng loại:
- Làm đầy các khuyết hổng xương, phục hồi hình thể giải phẫu sau lấy bỏ u xương.
- Trám vào giữa 2 mặt khớp đã đục bỏ lớp sụn trong phẫu thuật hàn khớp.
- Bắc cầu vào vùng mất xương lớn, tạo tính liên tục của xương dài.
- Làm vật chêm xương để hạn chế cử động khớp.
- Làm liền xương trong trường hợp khớp giả.
- Thúc đẩy quá trình liền xương đối với các trường hợp chậm liền, khó liền, bổ sung vào chỗ khuyết xương sau gãy kín hay sau phẫu thuật đục xương sửa trục.
Định hướng tương lai
PGS.TS Nguyễn Mạnh Khánh – Phó Viện trưởng Viện CHấn thương chỉnh hình, Trưởng khoa Phẫu thuật Chấn thương Chi trên và Y học thể thao cũng nhấn mạnh: Bệnh viện Việt Đức là bệnh viện Ngoại khoa hạng đặc biệt đầu tiên trên cả nước với hàng chục nghìn ca đại phẫu được thực hiện hàng năm, trong đó có lĩnh vực chấn thương chỉnh hình. Có thể thấy nhu cầu vật liệu gân, xương đồng loại là rất lớn. Với nguồn cung không phải là ít từ những trường hợp người cho chết não, những phần chi thể cắt cụt của người hiến tặng, nếu được thu nhận và qua quá trình xử lý, bảo quản theo đúng tiêu chuẩn quốc tế sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho người bệnh có nhu cầu. Do vậy, có thể thấy Ngân hàng Mô là một nhu cầu cấp bách và thực sự cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng điều trị, đáp ứng đòi hỏi ứng dụng các kỹ thuật tiên tiến, chuyên sâu tại Bệnh viện Việt Đức.
Một số ứng dụng nguồn gân, xương đồng loại tại Bệnh viện Việt Đức:
- Ghép xương do khớp giả thân xương dài (xương đùi, xương chày, xương cánh tay…): khoảng 50-100 ca/năm.
- Ghép xương do u xương (u đầu dưới xương đùi, đầu dưới xương quay…): khoảng 30-50 ca/năm.
- Tái tạo dây chằng khớp gối (chéo trước, chéo sau…): khoảng 300-400 ca/năm
Nguồn: Bệnh viện Việt Đức
Trật khớp háng bẩm sinh là thuật ngữ y khoa chỉ tình trạng chỏm xương đùi nằm lệch một phần hoặc hoàn toàn bên ngoài ổ khớp háng. Khớp háng có thể bị trật một bên hoặc cả 2 bên. Tình trạng này còn được gọi là loạn sản khớp háng.
Chấn thương dây chằng chéo trước là tình trạng dây chằng chéo trước bị rách hoặc bị bong. Dây chằng chéo trước là những dải mô bền chắc nối xương đùi với xương ống chân (xương chày). Chấn thương dây chằng chéo trước thường xảy ra trong các môn thể thao đòi hỏi phải đột ngột thay đổi hướng, dừng, nhảy hoặc tiếp đất như bóng đá, bóng rổ và trượt tuyết xuống dốc.
Loãng xương là một căn bệnh mãn tính khiến xương trở nên yếu hơn và dễ gãy. Một số yếu tố nguy cơ của bệnh loãng xương - chẳng hạn như tuổi tác và tiền sử gia đình – là không thể kiểm soát. Nhưng cũng có một số yếu tố có thể thay đổi để phòng ngừa loãng xương. Ví dụ, những người ngồi nhiều và ít vận động có nguy cơ mắc bệnh loãng xương cao hơn. Tích cực hoạt động thể chất và duy trì thói quen tập thể dục thường xuyên có thể giúp giảm nguy cơ loãng xương.
Canxi và vitamin D rất cần thiết để duy trì sức khỏe xương và ngăn ngừa loãng xương. Nhu cầu canxi và vitamin D hàng ngày phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính và tình trạng sức khỏe.
Viêm khớp là một vấn đề rất phổ biến. Tình trạng này có thể xảy ra ở bất kỳ khớp nào trên cơ thể nhưng thường xảy ra ở các khớp ở chân tay như cổ tay, ngón tay, đầu gối, hông, mắt cá chân. Tình trạng viêm khớp có thể xảy ra ở nhiều khớp cùng lúc.





