U màng não: phân loại, chẩn đoán và thái độ điều trị - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Ca bệnh
Bệnh nhân nữ (52 tuổi) bị đau đầu nhiều năm, 2 tháng trước vào khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội vì rối loạn trí nhớ và cảm xúc, không liệt khu trú.
Bệnh nhân được chỉ định chụp cộng hưởng từ, chẩn đoán u màng não thùy trán đỉnh có chèn ép xoang tĩnh mạch và chỉ định mổ lấy toàn bộ u, cắt bỏ màng não phần u xâm lấn. Sau mổ 5 ngày, bệnh nhân hồi phục hoàn toàn và ra viện.
Giải phẫu bệnh của khối u: u màng não thể chuyển tiếp (độ 1) lành tính.
U màng não
- Thuật ngữ u màng não chỉ những u xuất phát từ màng não, được đặt tên bởi Harvey Cushing.
- Màng não là lớp màng bao quanh não và tủy sống.
- U màng não là khối u phát triển từ những tế bào của màng nhện (arachnoid cell), thường xếp theo kiểu hợp bào (meningiothelial meningioma), có ranh giới rõ.
Phân độ
Độ I: Không có biệt hoá, lành tính chiếm hầu hết các trường hợp - tái phát chậm.
- U màng não dạng thượng mô (Meningothelial Meningioma)
- U màng não dạng sợi (Fibrous Meningioma)
- U màng não dạng chuyển tiếp (Transitional Meningioma)
- U màng não dạng thể cát (Psammomatous Meningioma)
- U màng não dạng tăng sinh mạch (Angiomatous Meningioma)
- U màng não dạng thoái hóa vi nang (Microcystic Meningioma)
- U màng não dạng chế tiết (Secretory Meningioma)
- U màng não giàu tương bào lympho (Lymphoplasmacyterich)
- U màng não dạng chuyển sản (Metaplastic Meningioma)
Độ II: Có một số tế bào không điển hình (atypic), lành tính nhưng có thể chuyển dạng mức độ tái phát cao hơn.
- U màng não không điển hình (Atypical Meningioma)
- U màng não dạng tế bào sáng (Clear cell Meningioma)
- U màng não xâm lấn nhu mô não (Brain invasive Meningioma)
- U màng não dạng nguyên sống (Chordoid Meningioma)
- Độ III: Thoái sản hay giảm biệt hoá ác tính (malignant) mức độ tái phát rất cao
- U màng não dạng hình que (Rhabdoid Meningioma)
- U màng não dạng nhú (Papillary Meningioma)
- U màng não dạng thoái sản ác tính (Anaplastic Meningioma)
Triệu chứng
- Động kinh là một dấu hiệu có ý nghĩa, gặp khoảng 20 25%. Vùng cuống u có khuynh hướng dày xương.
- Đau đầu không đặc hiệu, không nặng và vị trí đau không điển hình tại vùng có u.
- Hội chứng Foster Kennedy: u màng não vùng trán, u dây I.
- Teo gai thị cùng bên với thương tổn và phù gai thị phía đối bên.
- U màng não vùng đỉnh chẩm khi có chèn ép vào vùng khe cựa, vùng 17 và 18 trên bản đồ Broadman sẽ có biểu hiện bán manh ¼ của cả hai mắt.
- U màng não tại vùng rãnh trung tâm, nhất là tại hồi trán lên, vùng vận động của hình người lộn ngược Penfield sẽ có liệt vận động không đồng đều.
Điều trị
- Lấy toàn bộ u là một biện pháp tối ưu.
- Một vài u dính vào cấu trúc sinh tồn và cấu trúc mạch máu là một thách thức không nhỏ đối với các phẫu thuật viên thần kinh khi loại bỏ hoàn toàn các u này.
- Xạ trị (radiotherapy) hoặc xạ phẫu (radiosurgery) sau mổ.
- Xạ phẫu liều cao phải vào đúng u mới có hy vọng làm cho kích thước của u nhỏ lại hoặc ổn định kích thước, thực hiện khi chưa cắt bỏ hoàn toàn u.
- Xạ phẫu thường được dùng cho các u màng não có kích thước nhỏ, đường kính dưới 2cm.
- Nội khoa được xem xét trong điều trị u màng não là chất đối kháng nội tiết như Tamoxifen, Mifepristone (RU486) cũng được sử dụng để làm ổn định thể tích u do đáp ứng một phần của chất này
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Rối loạn căng thẳng sau sang chấn có thể gây cản trở hoạt động hàng ngày và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, điều trị đúng cách có thể giúp kiểm soát tốt các triệu chứng của rối loạn căng thẳng sau sang chấn.
Căng thẳng và lo lắng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả thị lực. Căng thẳng có thể gây giảm thị lực và các thay đổi về thị lực khác như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng hoặc thậm chí mất thị lực.
Bệnh Parkinson là một dạng rối loạn thần kinh do thoái hóa, có các triệu chứng điển hình là run chân tay, mất khả năng kiểm soát vận động của cơ, dẫn đến khó khăn khi cử động, đi lại, nói chuyện… Bệnh còn gây ra nhiều triệu chứng khác và khi bệnh tiến triển sang các giai đoạn sau thì các triệu chứng càng nặng.
Bệnh lý thần kinh do rượu sẽ ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thương vĩnh viễn ở hệ thần kinh và các bộ phận khác của cơ thể nếu người bệnh tiếp tục uống rượu. Điều này có thể dẫn đến khuyết tật, đau đớn mạn tính và thậm chí là tử vong.
Hầu hết mọi người đều phải trải qua căng thẳng vào một thời điểm nào đó trong đời nhưng căng thẳng mạn tính sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe. Ở những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, căng thẳng có thể khiến các triệu chứng tái phát. Giữ tinh thần thoải mái, ít căng thẳng có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.





