Triệu chứng học lâm sàng tắc động mạch chi - bệnh viện 103
1. Tắc động mạch chi cấp tính:
+ Là tình trạng tắc đột ngột lưu thông của động mạch chi. Nguyên nhân có thể do:
- Nghẽn động mạch cấp tính: thường là hậu quả của một bệnh lý động mạch (bệnh xơ mỡ động mạch,bệnh viêm tắc động mạch…)gây tổn thương tại chỗ thành động mạch,rồi trên cơ sở đó hình thành cục nghẽn.
- Tắc động mạch: cục tắc có thể là cục máu đông, mỡ, bóng khí…di chuyển từ nơi khác đến gây tắc hoàn toàn lòng của động mạch chi.
+ Triệu chứng chẩn đoán:
- Đau: xuất hiện đột ngột (cấp tính),dữ dội.Lúc đầu có thể khư trú ở một chỗ trên đường đi của mạch máu,sau đó đau có tính chất lan toả đến tận đầu của chi có động mạch bị tắc.
- Bại hoặc mất chức năng vận động của chi có động mạch bị tắc.
- Toàn trạng có thể có sốc nhẹ hoặc nặng.
- Chi bên tổn thương lạnh,giảm hoặc mất cảm giác,giảm hoặc mất các vận động chủ động cũng như thụ động.
- Mạch phía ngoại vi đập yếu hoặc mất.
- Các thăm khám cận lâm sàng: có thể tiến hành các thăm khám bằng Siêu âm,chụp X.quang động mạch cản quang,chụp CT…để xác định chẩn đoán.
2. Tắc động mạch chi mãn tính:
+ Là tình trạng tắc động mạch chi diễn ra từ từ và tăng dần.Nguyên nhân thường do bệnh xơ mỡ động mạch: thành động mạch bị tổn thương tạo thành các mảng nhiễm mỡ và hình thành các cục nghẽn gây hẹp dần lòng động mạch lại. Đồng thời do lưu thông dòng máu qua động mạch chính bị cản trở nên sẽ hình thành dần hệ tuần hoàn bên thông qua các động mạch cơ.Tuy nhiên lưu lượng máu đến nuôi chi bị tổn thương vẫn ngày một giảm đi.
+ Triệu chứng chẩn đoán:
- Đau: thời gian đầu biểu hiện bằng dẩu hiệu “đi lặc cách hồi”: bệnh nhân cứ đi bộ được một quãng nhất định thì lại phải nghỉ một lúc vì bị đau và “chuột rút” ở bắp chân.Về sau bệnh nặng dần: quãng đường đi được ngày càng ngắn,triệu chứng đau và “chuột rút” ngày càng nặng,thời gian nghỉ để có thể đi tiếp ngày càng phải lâu hơn.Cuối cùng,đau trở nên thường xuyên: nằm nghỉ cũng đau,nhất là về đêm.
- Mạch bên chi tổn thương yếu hơn bên lành.Chi bên tổn thương có thể có các biểu hiện thiểu dưỡng (phù,lạnh,các vết loét…)
- Cần tiến hành các thăm khám cận lâm sàng khác như Siêu âm,chụp X.quang động mạch cản quang…để xác định chẩn đoán.
Nguồn: Bệnh viện 103
Huyết khối tĩnh mạch sâu là tình trạng cục máu đông hình thành trong tĩnh mạch sâu bên trong cơ thể. Cục máu đông được tạo nên từ tiểu cầu và mạng lưới các sợi protein gọi là fibrin. Cục máu đông gây cản trở dòng máu trong tĩnh mạch. Cục máu đông có thể vỡ ra và di chuyển đến những vị trí khác trong cơ thể.
Nhịp tim lúc nghỉ ngơi trung bình thường dao động từ 60 đến 80 bpm, tuy nhiên, một số vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp đến 30-40 bpm. Nếu bạn là vận động viên hoặc là người thường xuyên tập thể dục, nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp thường không là vấn đề, thậm chí còn là biểu hiện cho trạng thái sức khỏe tốt. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy nhịp tim thấp đi kèm với các triệu chứng khác, như mệt mỏi hoặc chóng mặt.
Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi được xác định chính xác nhất khi ngồi hoặc nằm và ở trạng thái bình tĩnh. Nhịp tim khi nghỉ ngơi trung bình dao động trong khoảng 60 đến 80 nhịp mỗi phút. Vận động viên các môn thể thao sức bền thường có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn so với người bình thường. Một số vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi chỉ 30 đến 40 nhịp mỗi phút.
Phình động mạch chủ (aortic aneurysm) là khi thành động mạch chủ bị yếu, giãn ra và phình lên. Lóc tách động mạch chủ (aortic dissection) là khi lớp bên trong của thành động mạch chủ bị rách. Tình trạng này có thể dẫn đến tử vong nếu không được điều trị kịp thời.
Hệ tuần hoàn gồm ba loại mạch máu: động mạch, tĩnh mạch và mao mạch. Động mạch mang máu từ tim trong khi tĩnh mạch mang máu đến tim.





