Tế bào gốc trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính - Bệnh viện Phổi trung ương
Hiện nay, trên thế giới liệu pháp tế bào gốc đã được nghiên cứu sử dụng để điều trị rất nhiều bệnh lý khác nhau, trong đó có các bệnh lý phổi như bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), xơ phổi, bệnh bụi phổi, tổn thương phổi cấp tính.
Ứng dụng tế bào gốc trong điều trị
Tế bào gốc được lấy từ bệnh nhân có khả năng thay thế những tế bào trong cơ thể, bao gồm tế bào phổi, mạch máu, biểu mô... Những tế bào chưa biệt hóa này sẽ giúp cơ thể sửa chữa tổn thương, thay thế tế bào hỏng bằng tế bào mới và điều hòa hệ thống miễn dịch, giảm quá trình viêm.
Tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính đang ngày càng gia tăng do các vấn đề ô nhiễm môi trường và vấn nạn về hút thuốc, bệnh thường tiến triển nặng dần dẫn đến chất lượng sống giảm sút.
Mặc dù đã xuất hiện nhiều loại thuốc mới làm tăng hiệu quả điều trị đối với bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế với những trường hợp bệnh ở giai đoạn nặng và rất nặng.
Liệu pháp tế bào gốc là một trong những phương pháp điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính mới giúp làm giảm triệu chứng và ngăn chặn quá trình tiến triển của bệnh.
Ưu điểm của phương pháp:
- Tác động vào cơ chế bệnh sinh bằng phương pháp sinh học giúp trì hoãn hay đẩy lùi những tổn thương mới.
- Do đó, cuộc sống của các bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được cải thiện.
Cơ chế điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính bằng tế bào gốc bao gồm:
- Ức chế đáp ứng viêm bất thường
- Ức chế sự chết theo chương trình của tế bào phổi.
Hiện nay, các nghiên cứu trên thế giới đang triển khai sử dụng tế bào gốc trung mô được thu nhận từ mô mỡ, tủy xương để sử dụng trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tế bào gốc trung mô được tìm thấy tại tủy xương, mô mỡ, tủy răng và dây rốn, với khả năng nhân đôi, khả năng di chuyển tới vùng tổn thương và khả năng điều hòa miễn dịch.
Ứng dụng trong y học tái tạo y văn thế giới khẳng định tế bào gốc trung mô là loại tế bào gốc có tính an toàn cao, không gây tác dụng phụ nghiêm trọng sau khi ghép.
Và những kết quả ban đầu
Kết quả các nghiên cứu cho thấy sự cải thiện sau điều trị tế bào gốc ở bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính về các vấn đề sau:
- Giảm đáp ứng viêm bất thường
- Giảm khó thở
- Cải thiện khả năng gắng sức, phục hồi khả năng hoạt động, tăng cường sinh lực
- Cải thiện giấc ngủ
- Giảm số lần nhập viện/số cơn kịch phát.
Với những thành công bước đầu của một số nghiên cứu về điều trị tế bào gốc cho các bệnh nhân mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, cùng với những bước tiến đáng kể của nền y học trên thế giới về phát triển công nghệ tế bào gốc, nhiều nhà khoa học đang tiếp tục triển khai các nghiên cứu với quy mô lớn hơn để chứng minh vai trò của tế bào gốc từ mô mỡ và tủy xương trong điều trị bệnh lý này.
Bệnh viện Phổi trung ương sắp tới sẽ triển khai thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Nghiên cứu sử dụng tế bào gốc tự thân từ mô mỡ và tủy xương trong điều trị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” đã được Bộ Khoa học Công nghệ phê duyệt.
Chúng tôi hy vọng đây sẽ là hướng điều trị triển vọng cho các bệnh nhân bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tuy nhiên, quan trọng nhất vẫn là dự phòng bệnh bằng cách không hút thuốc lá thuốc lào, giảm tiếp xúc với khói bụi, ô nhiễm môi trường...
Nguồn: Bệnh viện Phổi trung ương
Các loại thuốc điều trị thuyên tắc phổi (PE) có tác dụng làm giảm kích thước cục máu đông, giúp làm tan hoặc ngăn ngừa cục máu đông tái phát. Tuy nhiên, tất cả các loại thuốc này đều có nguy cơ gây chảy máu.
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.
Thuyên tắc phổi là tình trạng cục máu đông hình thành trong động mạch phổi. Thuyên tắc phổi có thể gây tử vong, thời gian tử vong sau chẩn đoán sẽ khác nhau tuỳ từng trường hợp. Tuy nhiên nếu được điều trị kịp thời và đúng cách, bệnh nhân vẫn có khả năng hồi phục và hoạt động bình thường trở lại trong vài tuần.
Chụp cắt lớp vi tính (Chụp CT) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị thuyên tắc phổi (PE).
Thuyên tắc phổi (PE) xảy ra khi có cục máu đông di chuyển đến phổi và mắc kẹt trong mạch máu ở phổi. Có nhiều xét nghiệm được sử dụng để chẩn đoán và đánh giá thuyên tắc phổi, trong đó có các xét nghiệm máu như xét nghiệm D-dimer, Troponin và BNP.





