Rối loạn giấc ngủ ở trẻ mới biết đi
1. Giấc ngủ bình thường ở trẻ em
Giấc ngủ của trẻ sơ sinh khá khác so với giấc ngủ của người lớn. Trong giấc ngủ của trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi thì có đến 50% là giấc ngủ chuyển động mắt nhanh (REM), trong khi giấc ngủ này ở người lớn chỉ là 20%.
Trẻ sơ sinh bước vào giấc ngủ thông qua giai đoạn REM chủ động ban đầu, trái ngược với người lớn thường không đi vào giấc ngủ REM cho đến 90 phút của chu kỳ giấc ngủ. Giấc ngủ REM xuất hiện thường xuyên hơn trong chu kỳ ngủ ở trẻ sơ sinh, chính vì vậy, trẻ có chu kỳ ngủ ngắn hơn so với người lớn.
Giấc ngủ REM yên tĩnh ở trẻ dưới 6 tháng tuổi còn được gọi là giấc ngủ yên tĩnh không thể chia thành 4 giai đoạn điện não đồ được biết đến trong mô hình giấc ngủ của người trưởng thành.
Trẻ từ 6 tháng tuổi trở đi có cấu trúc giấc ngủ gần giống với cấu trúc giấc ngủ của người lớn. Giai đoạn ổn định ban đầu thường mất từ 10 - 20 phút, sau đó trẻ sẽ chuyển từ giai đoạn 1 không ngủ REM (NREM) sang giai đoạn 3 hoặc 4 của giấc ngủ. Trẻ có thể quay lại giai đoạn 1 và chu kỳ giấc ngủ mới. Sau một đến hai chu kỳ giấc ngủ NREM, giai đoạn REM sẽ kéo dài khoảng 60 - 90 phút.
Ở trẻ sơ sinh, thời lượng ngủ được chia đều giữa đêm và ngày. Giấc ngủ ban đêm dần dần được tăng lên trong năm đầu tiên thành một khối thời gian duy nhất không bị gián đoạn. Trong khi đó, giấc ngủ ban ngày giảm dần trong 3 năm đầu tiên. Trẻ đến 4 tuổi, hầu như không còn đòi hỏi ngủ trưa nữa. Nhu cầu ngủ vào ban đêm cũng giảm dần, đến tuổi thiếu niên thì nhu cầu ngủ của trẻ cũng tương tự như nhu cầu của người lớn.
2. Rối loạn giấc ngủ ở trẻ em
Các vấn đề về giấc ngủ thường gặp ở trẻ em bao gồm:
- Bệnh mất ngủ giả (Parasomnias): Chứng sợ ngủ, mê sảng và đái dầm khi ngủ. Tình trạng này dường như liên quan đến sự non nớt của hệ thần kinh trung ương và thường phát triển quá mức.
- Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS) thường bị bỏ sót ở trẻ em và thường có thể được điều trị khỏi thông qua phẫu thuật.
- Chứng ngủ rũ.
Tần suất thức giấc ban đêm bắt ở trẻ sơ sinh là 100%, giảm xuống còn khoảng 20 - 30% ở trẻ 6 tháng tuổi. Ngủ qua đêm mà không thức giấc là điều mà không phải lúc nào trẻ cũng duy trì được khi đã đạt được. Những đứa trẻ trước đó đã ngủ qua đêm, đôi khi có thể thức giấc trong đêm thường là do các yếu tố xã hội. Khoảng 1/4 - 1/3 trẻ sẽ tiếp tục thức giấc vào ban đêm và cần có sự can thiệp của cha mẹ để ngủ trở lại.
2.1. Bệnh mất ngủ giả (Parasomnias)
Bệnh mất ngủ giả (Parasomnias) là một rối loạn giấc ngủ được đặc trưng bởi đa hình thái bất thường. Chúng diễn ra từng đợt, thường do sự non nớt của hệ thần kinh trung ương. Vì vậy, tình trạng này thường gặp ở trẻ em hơn người lớn và thường phát triển nhanh hơn theo thời gian.
Theo một số chuyên gia, những rối loạn này là kịch phát, có thể dự đoán được trước khi chúng xuất hiện trong chu kỳ ngủ, không phản ứng với các kích thích môi trường và đặc trưng bởi chứng hay quên ngược dòng. Việc chẩn đoán thường được thực hiện thông qua hỏi bệnh kỹ lưỡng, ít khi cần làm các xét nghiệm kiểm tra.
2.1.1. Chứng hoảng sợ ban đêm
Chứng hoảng sợ ban đêm thường xảy ra vào khoảng 90 phút sau khi ngủ, trong giai đoạn 3 hoặc 4, NREM. Trẻ đột nhiên ngồi thẳng lưng và la hét, cha mẹ không thể dỗ được trong vòng 30 phút trước khi trẻ thư giãn và chìm vào giấc ngủ trở lại. Lúc này trẻ có thể thở nhanh, nhịp tim nhanh và các dấu hiệu khác của tình trạng kích thích tự chủ một cách rõ ràng.
Chứng hoảng sợ ban đêm thường xảy ra ở trẻ em từ 3 - 8 tuổi. Tình trạng này cần được phân biệt với những cơn ác mộng mà trẻ gặp phải khi ngủ. Chứng hoảng sợ ban đêm có nhiều khả năng xảy ra trong thời gian trẻ căng thẳng hoặc mệt mỏi.
Cách khắc phục tình trạng này đó là cha mẹ cần:
- Trấn an trẻ.
- Giảm bớt căng thẳng có thể xảy ra trong môi trường sống của trẻ.
- Đảm bảo rằng trẻ được nghỉ ngơi đầy đủ.
Với những trẻ em gặp phải sự sợ hãi ban đêm không thể tự giới hạn hoặc trẻ gây rối, khi đó có thể sử dụng Diazepam, loại thuốc này đã được sử dụng và đem lại một số thành công.
2.1.2. Mộng du và nói mê
Chứng mộng du là tình trạng một đứa trẻ ngồi dậy trên giường với đôi mắt mở nhưng thực sự trẻ không nhìn thấy gì. Trẻ có thể cảm thấy bồn chồn, cử động trên giường hoặc có thể đi bộ trong nhà.
Chứng nói mê hay còn gọi mê sảng là tình trạng trẻ phát ra lời nói lầm bầm và nói lắp, hiếp khi dễ hiểu trong khi ngủ.
Những rối loạn này thường xảy ra ở trẻ em trong độ tuổi đi học, thường gặp ở bé trai hơn bé gái và thường liên quan đến chứng đái dầm. Trẻ bị mộng du tiềm ẩn nguy cơ nguy hiểm đến cơ thể như ngã từ ban công hoặc ngã xuống cầu thang. Cha mẹ có thể phòng tránh các trường hợp này bằng cách:
- Thiết kế phòng ngủ cho trẻ ở tầng một của ngôi nhà.
- Cửa sổ và cửa ra vào phải có khung chắn cố định chắc chắn.
- Khi phát hiện trẻ mộng du, bố mẹ cần cố gắng can thiệp ở mức tối thiểu. Không nên lắc, tát hoặc quát mắng trẻ.
Những hành vi này thường phát triển nhanh hơn ở tuổi vị thành niên và nói chung chúng không cần bất kỳ sự can thiệp nào khác.
Một biện pháp can thiệp tỏ ra có hiệu quả trong một nghiên cứu đó là đánh thức trẻ theo lịch trình. Cha mẹ cần ghi nhật ký về thời gian mộng du trong nhiều đêm và sau đó bắt đầu đánh thức trẻ vào khoảng 15 phút trước khi cơn mộng du xuất hiện và đảm bảo trẻ hoàn toàn tỉnh táo trong vòng ít nhất 5 phút. Biện pháp này đã giúp hơn 80% trẻ em thoát khỏi tình trạng mộng du
2.1.3. Đái dầm ban đêm
Đái dầm ban đêm hay thường được gọi ngắn gọn là đái dầm là một trong những chứng mất ngủ giả phổ biến và dai dẳng ở trẻ em. Đái dầm ở trẻ em được chia thành 2 loại đó là:
- Đái dầm nguyên phát là trẻ chưa bao giờ khô ráo suốt đêm.
- Đái dầm thứ phát là khi trẻ đái dầm trở lại sau một năm không có tình trạng này.
Trong đó, đái dầm nguyên phát phổ biến hơn và ít có khả năng do nguyên nhân bệnh lý gây ra. Căn nguyên của chứng đái dầm nguyên phát có thể do nhiều yếu tố như:
- Tiền sử gia đình có nhiều người mắc chứng đái dầm
- Trẻ em chậm phát triển ở độ tuổi 1 - 3 tuổi có nhiều khả năng bị đái dầm cho đến 6 tuổi.
- Trẻ em đái dầm được phát hiện có chức năng bàng quang kém hơn, có nghĩa là thể tích nước tiểu mà bàng quang có thể chứa được ít hơn. mặc dù dung tích của chúng không khác so với những trẻ không đái dầm.
Đái dầm được hầu hết các nhà nghiên cứu về giấc ngủ coi là chứng mất ngủ già vì nó chỉ xảy ra trong giấc ngủ NREM.
Các biện pháp cha mẹ có thể áp dụng để giúp cải thiện tình trạng đái dầm ở trẻ đó là:
- Hạn chế uống chất lỏng vào buổi tối.
- Đánh thức trẻ đi vệ sinh trước khi cha mẹ đi ngủ.
- Thiết bị báo động ướt giường.
2.2. Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS)
Hội chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn (OSAS) được cho là ảnh hưởng đến 1 - 3% trẻ em. Các triệu chứng của tình trạng này bao gồm:
- Ngáy
- Khó thở khi ngủ
- Thở bằng miệng khi ngủ
- Cha mẹ có thể gặp khó khăn khi cho trẻ ăn
Tình trạng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn ở trẻ em thường do phì đại amidan gây ra. Các nguyên nhân khác bao gồm:
- Bất thường sọ mặt
- Béo phì
- Bệnh thần kinh cơ
- Bệnh dị ứng
Người lớn bị ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn đường thở thường không liên tục và thường sâu hơn. Ở trẻ em có nguyên nhân là do phì đại amidan nên tắc nghẽn thường dai dẳng và thường ít sâu hơn. Trẻ em bị ngưng thở khi ngủ thường gặp khó khăn trong học tập hoặc hành vi bao gồm rối loạn tăng động hoặc giảm chú ý.
Chẩn đoán chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn được thực hiện trong một phòng thí nghiệm giấc ngủ trẻ em bằng cách sử dụng phương pháp đo oxy về đêm và chụp đa ảnh.
Hầu hết những trẻ bị chứng ngưng thở khi ngủ do tắc nghẽn sẽ thuyên giảm đáng kể sau khi cắt amidan và cắt VA. Những trẻ bị OSAS do nguyên nhân khác sẽ không được hưởng lợi từ việc cắt bỏ amidan và VA. Những trường hợp này có thể sử dụng biện pháp thở áp lực dương liên tục qua mũi (CPAP), phương pháp này an toàn và hiệu quả với trẻ em.
2.3. Chứng ngủ rũ
Chứng ngủ rũ không phổ biến ở trẻ em, nhưng đôi khi có thể xảy ra ở tuổi vị thành niên. Triệu chứng chủ yếu của chứng bệnh này đó là:
- Buồn ngủ quá mức vào ban ngày.
- Trẻ em không gặp ảo giác, không đột ngột mất trương lực cơ thường xuyên như người lớn.
- Ban đầu, trẻ mắc chứng ngủ rũ rất khó thức dậy vào buổi sáng. Khi bị đánh thức, trẻ có thể tỏ ra bối rối hoặc hưng hăng, có khi chửi bới.
Chứng ngủ rõ có thể khó để chẩn đoán, cần phải đánh giá hàng loạt yếu tố nếu nghi ngờ. Những đứa trẻ này có thể cải thiện tình trạng trên nhờ vào những giấc ngủ ngắn theo lịch trình thường xuyên. Trẻ cũng có thể phải sử dụng thuốc kích thích.
Đây là căn bệnh suốt đời với nguy cơ mắc bệnh đáng kể, do đó trẻ em mắc chứng ngủ rũ cần được theo dõi bởi một chuyên gia về giấc ngủ.
2.4. Rối loạn giấc ngủ thứ cấp
Những rối loạn giấc ngủ thứ cấp phổ biến hơn nhiều so với những rối loạn giấc ngủ nguyên phát kể trên. Giấc ngủ bị gián đoạn thường thoáng qua, nhưng tiềm ẩn nhiều nguy cơ cho gia đình khi nó kéo dài. Rối loạn giấc ngủ thứ phát thường gặp nhất đó là thức đêm và chống đối trước khi đi ngủ. Tình trạng này thường xảy ra ở trẻ mới biết đi và trẻ mẫu giáo.
Mặc dù có đến 95% trẻ sơ sinh khóc sau khi thức dậy vào ban đêm và cần sự phản ứng của cha mẹ trước khi ngủ trở lại, nhưng khi chúng 1 tuổi, có khoảng 60 - 70% trẻ sơ sinh có thể tự xoa dịu tình trạng này.
Một đứa trẻ được đưa vào giường khi vẫn tỉnh táo và học cách tự an ủi thường có thể tự trấn tĩnh và trở lại giấc ngủ khi tỉnh dậy vào ban đêm. Mặt khác, một đứa trẻ ngủ gật kèm theo một số tác động của cha mẹ như bế đung đưa có thể khó ngủ lại khi thức dậy một mình vào ban đêm.
Chính vì vậy, các bậc cha mẹ có thể cần xem xét việc dừng đung đưa để trẻ ngủ, hoặc không cho phép trẻ ngủ ở nơi khác không phải cũi của trẻ. Cha mẹ có thể đợi một lúc trước khi phản ứng lại khi trẻ quấy khóc trong đêm, để giúp trẻ học cách tự trở lại giấc ngủ. Dần dần, trẻ sẽ tự ngủ trở lại mà không cần cha mẹ can thiệp.
3. Trẻ bị rối loạn giấc ngủ khi nào cần đi khám?
Nhiều trẻ em khó đi vào giấc ngủ và ngủ không sâu giấc. Khả năng con của bạn gặp phải vấn đề về giấc ngủ tăng lên nếu đó là đứa con đầu lòng của bạn, hoặc trẻ hiếu động hoặc hay bị nhiễm trùng tai.
Các bậc cha mẹ thường lo lắng hơn khi chăm sóc đứa con đầu lòng và thường có xu hướng để cho trẻ thoải mái, không có quy tắc khi đi ngủ. Trẻ em mắc chứng tăng động giảm chú ý có thể cản trở giấc ngủ. Những trẻ mới biết đi bị nhiễm trùng tai thường xuyên có xu hướng thức dậy vào ban đêm khi chúng cảm thấy khó chịu, tình trạng này tiếp tục khi chúng đang trong giai đoạn điều trị.
Thực tế có ít hơn 10% trẻ mới biết đi bị rối loạn giấc ngủ thực sự, được định nghĩa là một vấn đề giấc ngủ nghiêm trọng hơn bắt nguồn từ tình trạng sinh lý. Phó giám đốc Trung tâm Rối loạn giấc ngủ tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, Jodi Mindell đưa ra các câu hỏi để đánh giá xem trẻ có bị rối loạn giấc ngủ hay không, bao gồm:
- Con bạn có ngủ ngáy không?
- Con bạn có thở bằng miệng khi ngủ không?
- Con bạn có thường bị sặc hoặc ho vào ban đêm không?
- Con bạn có đổ mồ hôi rất nhiều vào ban đêm không?
- Con bạn có tỏ ra vô cùng bối rối khi thức giấc giữa đêm không?
- Con bạn có đá chân hoặc đập đầu khi chìm vào giấc ngủ không?
- Con bạn mới biết đi và trông bé rất kinh hãi khi thức giấc trong đêm?
- Con bạn có đá chân theo nhịp điệu hoặc đi ra khỏi giường khi ngủ không?
- Con bạn có hay ngủ không?
Nếu con bạn đúng với bất kỳ câu hỏi nào kể trên, trẻ có thể mắc chứng rối loạn giấc ngủ và bạn nên đưa trẻ đến gặp bác sĩ để tìm hiểu xem trẻ đang gặp phải vấn đề gì và cách giải quyết vấn đề đó như thế nào.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Có nên cắt giấc ngủ lúc 8h tối và cắt cữ bú đêm để trẻ 4 tháng tuổi ngủ dễ hơn và ngủ xuyên đêm không ạ?
Em sinh bé nặng 3,4kg. Hiện bé đã được 4 tháng tuổi, nặng 8kg. Bé nhà em ngủ rất nhiều. Một ngày bé ngủ khoảng 13 tiếng. Ban ngày bé ngủ từ 5-6 tiếng. Ban đêm thì bé ngủ 1 giấc tầm 8h tối xong lại dậy chơi đến hơn 11h mới ngủ đến 7h sáng mới dậy. Ban ngày bé ngủ như thế có nhiều quá không ạ? Buổi tối em muốn cắt giấc 8 giờ tối của bé để bé ngủ dễ hơn được không ạ? Và buổi tối em cho bé dậy 3 lần để uống sữa. Sáng dậy bé phải 11h mới chịu bú lại. Em băn khoăn không biết có nên cắt cữ bú đêm của bé để bé ngủ xuyên đêm và sáng bé bú lại không ạ?
- 1 trả lời
- 1153 lượt xem
Trẻ 2 tháng 16 ngày giấc ngủ ngắn và sáng ngủ dậy hay ho và hắt xì thì có cần đi khám không?
Hiện bé nhà tôi đang được 2 tháng 16 ngày. Giấc ngủ của bé rất ngắn. Ban ngày bé bú no rồi ngủ quên, mẹ đặt xuống nhưng chỉ 20-30 phút là thức. Sau đó tôi lại cho bú để tiếp tục ngủ thì cũng chỉ ngủ được chừng đó th ời gian thôi. Ngoài ra, sáng khi thức dậy bé hay hắt xì và ho. Tôi có cần cho bé đi khám không ạ?
- 1 trả lời
- 875 lượt xem
Bé mới sinh 15 ngày xì hơi nhiều lần và vặn mình nhiều, ngủ không sâu giấc có phải bị thiếu chất?
Bé nhà em mới sinh được 15 ngày tuổi. Em bé bú mẹ là chủ yếu ạ. Em có cho bé bú thêm sữa công thức nhưng bé bú rất ít. Khoảng 3-4 ngày gần đây bé nhà em xì hơi rất nhiều, ngày từ 20-30 lần và có mùi hôi. Tuy nhiên bé vẫn đi tiểu và đi ị phân vẫn bình thường. Làm sao để giảm xì hơi cho bé ạ? Và hệ tiêu hóa của bé có sao không ạ? Bé nhà em còn có tật là bú đã no nhưng không chịu nhả núm bình, khi ngủ mới rút bình ra được. Mỗi lần bé bú no khoảng 60-70ml. Buổi chiều khoảng từ 3 -5h bé không chịu ngủ, quấy khóc và có khi thức liền 6 tiếng mới ngủ lại. Buổi tối cũng ngủ không sâu giấc bởi bé vặn mình rất nhiều, được khoảng 1h là bé dậy đòi bú. Bé vặn mình nhiều, ngủ không sâu có phải do thiếu chất không ạ? Và bé nhà em nằm trong phòng điều hòa khoảng 27-28 độ, đóng cửa suốt có được không ạ? Em quấn khăn thì bé hất bung ra hết, mà không quấn thì bé giật mình hay tỉnh giấc ạ.
- 1 trả lời
- 4013 lượt xem
Có nên để trẻ ngủ bao lâu thì ngủ, khi nào dậy đòi mới cho bú không?
Bé nhà em sinh mổ được 3,2kg. 1 tháng sau bé được 4,3kg. Hiện giờ bé đã được 1 tháng 8 ngày tuổi rồi. Gần đây ban đêm bé nhà em thường ngủ một mạch từ 9h tối đến 7h30 sáng luôn. Bé không dậy bú, mà em phải đánh thức rồi làm đủ cách nhưng bé chỉ mơ màng bú được khoảng 40ml. Em vỗ ợ hơi rồi cho bé ngủ lại thì bị ọc hết sữa ra. Cho em hỏi là nếu bé không sốt thì em có nên để cho bé ngủ bao lâu thì ngủ, khi nào bé dậy đòi thì mới cho bú có được không ạ?
- 1 trả lời
- 655 lượt xem
Trẻ 2 tuần tuổi ngủ không sâu giấc và ngậm sữa khi bú mẹ có bình thường không?
Bé gái nhà em đang được 2 tuần tuổi rồi. Em sinh thường. Em bé thường bú 2 bên sữa mẹ, mỗi bên từ 10 đến 15 phút sau đó thì ngậm sữa trong miệng, không thấy nuốt. Nhiều lúc bé chỉ bú một bên đã đi ngủ rồi. Em đã thử vỗ lưng, xoa má, massage tay chân nhưng bé vẫn không chịu dậy. Khi bú mẹ, bé chỉ ngủ được một tiếng là lại dậy đòi bú tiếp. Sau đó bú khoảng 2-3 phút lại ngậm sữa trong miệng. Khi em cho bé ăn dặm thêm 40ml sữa công thức thì bé sẽ ngủ được khoảng 3 tiếng. Không biết có phải bú sữa mẹ bé không đủ no nên hay thức giấc như vậy không bác sĩ? Sữa của em màu trắng đục, chỉ căng sữa sau 3 tiếng giữa các cữ bú của bé. Em muốn cho bé bú mẹ hoàn toàn thì cần làm gì ạ?
- 1 trả lời
- 1293 lượt xem
Nguyên nhân thường gặp nhất khiến trẻ đau họng là gì? Khi bé đau họng bố mẹ cần làm gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Trẻ chập chững, trẻ lớn hơn và người lớn thường bị viêm phế quản. Trẻ sơ sinh thường không bị viêm phế quản, mà bị viêm tiểu phế quản (thường do nhiễm virus hợp bào hô hấp).
May mắn thay, một cơn đau tim sẽ không xảy ra ở độ tuổi này! Nhưng có một số nguyên nhân khác có thể gây đau ngực ở trẻ em.
Ngay từ khi mới sinh con bạn sẽ muốn chuẩn bị cho mình một tủ thuốc (có thể cất giữ ngoài tầm với hoặc có thể xách mang theo bất cứ nơi đâu) để nhanh chóng xử lý được các tình trạng sổ mũi, sốt hay các bệnh thường gặp khác ở trẻ, cũng như thực hiện các hoạt động chăm sóc hàng ngày.
Bé có thể gặp khó khăn khi ở trường và với các kỹ năng xã hội. Tùy thuộc vào mức độ thính giác, khả năng nói của bé có thể bị ảnh hưởng và âm thanh phát ra có thể “khác” với người khác.





