Phẫu thuật nội soi điều trị Megacolon (phẫu thuật Soave đường hậu môn một thì)
1. Bệnh Megacolon
Megacolon là sự giãn nở bất thường của đại tràng hay còn gọi là phình đại tràng. Sự giãn nở thường đi kèm với tê liệt các chuyển động nhu động của ruột. Trong trường hợp xấu, phân hợp nhất thành các khối cứng trong trại tràng và cần phải được phẫu thuật để loại bỏ.
Megacolon là nguyên nhân gây tắc ruột thấp thường gặp nhất ở lứa tuổi nhũ nhi. Bệnh do hạch bẩm sinh trong đám rối thần kinh ruột. Do đó, tên gọi chính xác là phình đại tràng vô hạch bẩm sinh (Bệnh Hirschsprung).
Bệnh đôi khi xảy ra trong cùng một gia đình hoặc trong một số trường hợp có thể liên quan đến đột biến gen. Bệnh này xảy ra khi các tế bào thần kinh trong đại tràng không hình thành hoàn toàn. Các dây thần kinh trong đại trạng kiểm soát các cơn co thắt cơ bắp để di chuyển thức ăn qua ruột. Bởi vì không có các cơn co thắt vì vậy phân vẫn nằm lại ở trong ruột già. Bệnh này phổ biến ở nam giới và có thể di truyền được. Ngoài ra bệnh còn liên quan đến một số bệnh di truyền khác như hội chứng Down và các tình trạng bất thường khi sinh như bệnh tim bẩm sinh.
Đối với trẻ em bị mắc bệnh dễ bị nhiễm trùng đường ruột nghiêm trọng gọi là viêm ruột. Và khi đó, viêm ruột có thể đe dọa đến tính mạng của trẻ.
Các triệu chứng của bệnh thường đáng chú ý ngay sau khi bé được sinh ra. Mặc dù, đôi khi chúng cũng không rõ ràng cho đến khi đứa trẻ một hoặc hai tuổi. Dấu hiệu của bệnh bao gồm:
- Không có phân su trong vòng 48 giờ (phân có màu đen giống như hắc ín)
- Bụng sưng và đau bụng
- Nôn ra dịch xanh
- Táo bón kéo dài mà không đỡ hơn bằng các phương pháp điều trị thông thường
- Ăn không ngon hoặc không tăng cân
2. Phẫu thuật nội soi điều trị Megacolon
Kỹ thuật mổ điều trị bệnh lý này bao gồm cắt bỏ đoạn vô hạch và tái lập sự lưu thông ruột. Có 3 phương pháp phẫu thuật trong đó phương pháp phẫu thuật Soave đường hậu môn được coi là kinh điển trong điều trị bệnh Hirschsprung. Phương pháp này được giới thiệu vào những năm 1960. Niêm mạc và lớp dưới niêm mạc của trực tràng được cắt bỏ và ruột hạch được kéo qua vòng cơ không có hạnh của trực tràng. Các hoạt động ban đầu không bao gồm sự thông nhau của hai mạch mà dựa trên sự hình thành mô sẹo giữa phân đoạn kéo qua và ruột không có hạch xung quanh.
Quá trình phẫu thuật Soave cụ thể:
- Chuẩn bị: Bệnh nhân được hướng dẫn kỹ để làm sạch đại tràng bằng cách thụt rửa, uống kháng sinh dự phòng, ...
- Phẫu thuật: Bác sĩ sẽ gây mê nội khí quản, tê xương cùng. Sử dụng dụng cụ để xác định vị trí đoạn vô hạch (sinh thiết lạnh nếu có). Bắt đầu từ mạc treo đại tràng xích ma, mở cửa sổ bừng móc đốt. Mạch máu mạc treo đại tràng được bóc tách. Khi hạ đại tràng, cần kiểm tra kỹ tránh hiện tượng xoắn vặn xảy ra. Ở phía của hậu môn, trực tràng được bóc tách ôm sát thành ruột. Mặt sau trực tràng bóc tách sát thành, xung quanh dưới nếp phúc mạc 1-2 cm.
- Một số rủi ro của quá trình phẫu thuật: chảy máu trong hoặc sau khi phẫu thuật; hoặc ruột bị nhiễm trùng (viêm ruột); hoặc dịch trong ruột bị rò rỉ vào cơ thể có thể dẫn đến nhiễm trùng nghiêm trọng (viêm phúc mạc); hoặc ruột bị hẹp, chặn.
- Phục hồi sau phẫu thuật. Bệnh nhân sẽ phải ở lại viện vài ngày sau phẫu thuật. Bác sĩ sẽ cho dùng thuốc giảm đau và truyền dịch tĩnh mạch cho đến khi người bệnh có thể sử dụng được thức ăn và đồ uống. Mặc dù người bệnh không có chế độ ăn uống đặc biệt khi về nhà, nhưng điều quan trọng là họ phải uống nhiều nước khi trong quá trình phục hồi.
3. Biến chứng sau phẫu thuật
Sau quá trình phẫu thuật phình đại tràng sẽ có một số biến chứng thường gặp như:
- Rò miệng nối. Tạo áp xe ở hố ngồi trực tràng hoặc quanh trực tràng. Để khắc phục chỉ cần rạch tháo mủ theo đường trực tràng, tuy nhiên, hậu quả của rò miệng nối sẽ dẫn đến xơ hẹp miệng nối về sau.
- Rối loạn tiết niệu. Biến chứng chủ yếu do bóc tách thái quá làm tổn thương thần kinh bàng quang.
- Sót đoạn vô hạch. Có thể gặp ở đoạn đại tràng bên trên do không đánh giá được trong khi mổ hoặc ở phần dưới do chừa lại mỏm trực tràng quá dài. Biểu hiện của biến chứng này trên lâm sàng là hội chứng táo bón kéo dài sau mổ. Tuỳ theo mức độ có thể xử trí phù hợp. Với những thể nhẹ chỉ cần nong hậu môn và theo dõi tình trạng. Còn với thể nặng có thể cần sinh thiết, kiểm tra bằng hình ảnh để có kế hoạch mổ lại.
- Hẹp miệng nối. Thường do hậu quả của bục hoặc rò sau mổ không được nong hậu môn đều đặn hoặc cắt vòng xơ hẹp hoặc phẫu thuật làm lại miệng nối.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.
Có nhiều cách kiểm soát chứng đau nửa đầu, từ dùng thuốc cho đến các biện pháp điều trị tự nhiên. Nghiên cứu gần đây cho thấy hoa oải hương có thể làm giảm chứng đau nửa đầu. Hoa oải hương có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trị đau nửa đầu. Một trong số đó là sử dụng tinh dầu oải hương. Cùng tìm hiểu xem liệu điều trị đau nửa đầu bằng tinh dầu oải hương có hiệu quả hay không và cách sử dụng ra sao.





