Kiểm soát đường thở ở nạn nhân có dấu hiệu chấn thương hàm mặt
1. Dấu hiệu chấn thương hàm mặt
Chấn thương hàm mặt được định nghĩa là một chấn thương được giới hạn từ phần dưới bởi xương hàm dưới, phần trên tới da đầu và hai bên tai. Dấu hiệu chấn thương hàm mặt rất đa dạng, tùy thuộc vào loại chấn thương. Chấn thương hàm mặt có thể là:
- Chấn thương phần mềm như: Chấn thương má, môi, lưỡi với các tổn thương có độ nông sâu, độ dài khác nhau. Phần mềm hàm mặt có nhiều nhóm cơ bám nên khó xử trí vết thương, nếu không chú ý các điểm mốc có thể làm xáo trộn khuôn mặt. Bên cạnh đó, vùng hàm mặt có dây thần kinh và ống dẫn nước bọt, nếu không xử lý đúng có thể gây các biến chứng về sau như tê mặt, dò nước bọt ra da,...
- Chấn thương xương hàm:Có thể chấn thương xương hàm trên hoặc xương hàm dưới. Trong đó, xương hàm trên là xương xốp mềm hơn xương hàm dưới nên dễ bị chấn thương, tuy nhiên lại dễ lành hơn.
- Chấn thương răng: Có thể để lại hậu quả là các răng bị chết tủy dẫn đến viêm chóp răng, áp-xe răng, phải nhổ bỏ răng.
Cùng với sự phát triển của giao thông đô thị, dân cư đông đúc, các chấn thương hàm mặt ngày càng phổ biến. Chấn thương hàm mặt như gãy xương hàm có thể gây sập các tổ chức phần mềm vùng họng miệng, chấn thương thanh quản gây tắc nghẽn đường thở. Ngoài ra, khi chấn thương có thể gây khối máu tụ hoặc rơi dị vật vào đường thở. Để xử trí các chấn thương răng hàm mặt, kiểm soát đường thở là bước được thực hiện đầu tiên, sau đó mới điều trị choáng (sốc) nếu có và xử trí các tổn thương cụ thể. Việc đánh giá đường thở sẽ được thực hiện kỹ càng và nhanh chóng. Bác sĩ sẽ khám, nắm rõ tất cả các chi tiết của chấn thương để chọn phương pháp kiểm soát đường thở tốt nhất cho bệnh nhân.
2. Kiểm soát đường thở bệnh nhân chấn thương hàm mặt
Để kiểm soát đường thở cho bệnh nhân có dấu hiệu chấn thương hàm mặt, có rất nhiều yếu tố cần phải xem xét như: Bệnh nhân có ý thức hay không? Bệnh nhân có tự thở hay không? Bệnh nhân có bị giảm oxy máu không? Mức độ, chi tiết giải phẫu của chấn thương như thế nào? Có ảnh hưởng đến các cấu trúc xương mặt không? Tùy thuộc vào tình trạng của từng người bệnh, bác sĩ sẽ sử dụng phương pháp kiểm soát đường thở cùng các loại thuốc hỗ trợ phù hợp.
Các kỹ thuật kiểm soát đường thở bệnh nhân chấn thương hàm mặt thường được sử dụng là:
2.1. Các kỹ thuật khai thông đường thở
- Điều chỉnh tư thế bệnh nhân (khi bệnh nhân trong tình trạng không đáp ứng): Nếu bệnh nhân đang nằm nghiêng hoặc sấp thì dùng kỹ thuật lật đồng thời cả đầu, thân và tay chân cùng lúc (kỹ thuật lật khúc gỗ) để đưa bệnh nhân về tư thế nằm ngửa. Mở đường thở bằng cách ngửa đầu hoặc ấn giữ hàm tùy theo tổn thương cụ thể. Thụt lưỡi là một trong các nguyên nhân thường gặp gây tắc nghẽn đường thở, áp dụng các cách điều chỉnh tư thế giúp kéo lưỡi về phía trước và mở thông đường thở.
- Nếu bệnh nhân bị tắc nghẽn đường thở một phần, vẫn tỉnh táo và ho được, động viên bệnh nhân ho để làm sạch đường thở.
- Nếu người bệnh không thể nói, ho, thở, việc điều chỉnh tư thế thất bại hoặc thấy có dị vật ở miệng, hầu thì áp dụng biện pháp ép bụng (nghiệm pháp Heimlich) hoặc kỹ thuật vỗ lưng và ép ngực.
- Nghiệm pháp Heimlich: Dùng lực ép vào vùng thượng vị để đẩy cơ hoành lên trên gây tăng áp lực lồng ngực, tạo một luồng khí mạnh tống dị vật ra khỏi đường thở.
- Vỗ lưng và ép ngực: Thường được sử dụng cho trẻ nhỏ. Đặt trẻ nằm trên tay tư thế sấp dọc theo trục của tay và đầu trẻ ở thấp. Dùng phần thắng của bàn tay vỗ nhẹ và nhanh 5 cái lên vùng giữa hai xương bả vai. Nếu vỗ lưng ko đẩy được dị vật, lật trẻ nằm ngửa và ép ngực. Giữa những lần vỗ lưng và ép ngực, quan sát khoang miệng để lấy dị vật nếu thấy.
2.2. Một số kỹ thuật bảo vệ giúp kiểm soát đường thở ở bệnh nhân chấn thương hàm mặt
- Đặt Canuyn: Giúp duy trì sự thông thoáng của đường thở bằng cách tách lưỡi ra khỏi thành họng. Canuyn giúp thông khí đầy đủ đặc biệt khi dùng bóng Ambu và mask. Canuyn đặt đúng còn giúp hút đờm dãi dễ dàng hơn. Có hai loại canuyn là canuyn miệng hầu và canuyn mũi hầu. Canuyn mũi hầu được chỉ định khi không đặt được canuyn miệng hầu, chống chỉ định ở trẻ em (do lỗ mũi nhỏ) và các trường hợp có chấn thương, dị vật vùng mũi.
- Mặt nạ thanh quản: Là phương tiện làm thông đường thở trên với cấu tạo gồm một ống nòng to, đầu dưới có một bóng chèn hình elip. Sau khi đặt mặt nạ thanh quản cho bệnh nhân và bơm hơi, bóng chèn sẽ úp kín qua lối vào thanh quản,tạo thành một lớp giống như mặt nạ. Mặt nạ thanh quản tiện lợi, dễ thực hiện hơn so với đặt ống nội khí quản.
- Đặt nội khí quản kiểm soát đường thở ở bệnh nhân chấn thương hàm mặt: đặt nội khí quản là phương pháp hiệu quả giúp duy trì sự thông thoáng của đường thở, cung cấp oxy nồng độ cao, thuận tiện cho việc hút đàm nhớt, chất tiết và giúp ngăn ngừa hít sặc các chất tiết từ dạ dày, họng, miệng. Tuy nhiên, đặt nội khí quản là một kỹ thuật khó, cần được thực hiện bởi bác sĩ có kinh nghiệm.
Ngoài ra, tùy theo tình trạng của người bệnh, có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát đường thở khác như mở khí quản, chọc, mở màng nhẫn giáp,...
Kiểm soát đường thở là thủ thuật được thực hiện trong các trường hợp cấp cứu, phẫu thuật,... thường quy tại . Theo đó, quy trình kiểm soát đường thở tại được thực hiện bài bản, đúng chuẩn quy trình bởi đội ngũ y bác sĩ tay nghề chuyên môn cao, hệ thống máy móc hiện đại. Nhờ đó nhiều người bệnh đã thoát khỏi nguy hiểm và hạn chế được các tai biến sau quá trình kiểm soát đường thở.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 1044 lượt xem
Thèm nhai đá có thể là do nhiều nguyên nhân nhưng hai nguyên nhân phổ biến nhất là thiếu máu do thiếu sắt và hội chứng pica.
Có nhiều cách kiểm soát chứng đau nửa đầu, từ dùng thuốc cho đến các biện pháp điều trị tự nhiên. Nghiên cứu gần đây cho thấy hoa oải hương có thể làm giảm chứng đau nửa đầu. Hoa oải hương có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trị đau nửa đầu. Một trong số đó là sử dụng tinh dầu oải hương. Cùng tìm hiểu xem liệu điều trị đau nửa đầu bằng tinh dầu oải hương có hiệu quả hay không và cách sử dụng ra sao.
Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn tiêu hoá gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón. Nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng này vẫn chưa được xác định nhưng các tác nhân kích hoạt triệu chứng gồm có mốt số loại thực phẩm, đồ uống và stress.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.





