Khe hở chéo mặt: Những điều cần biết
1.Tổng quan
Dị tật bẩm sinh hàm mặt mà chủ yếu là khe hở môi vòm miệng có tỷ lệ 1/1000 trẻ sơ sinh. Trong khoa hàm mặt, số bệnh nhân tới điều trị dị tật hở môi vòm miệng chiếm khoảng 20%. Trong số đó, khe hở chéo mặt Tessier số 4 là tình trạng bất thường ở khe hở mắt - miệng rất hiếm gặp (1.43 - 4.85/100,000 trẻ).
Đặc trưng bệnh lý là khe hở từ bờ dưới mi mắt đến môi trên (giữa nhân trung và khóe miệng). Đi kèm với đó là các dị tật lộn kết mạc, nhắm mắt không kín khiến nhãn cầu không được bảo vệ, nguy cơ viêm, khô giác mạc, kết mạc, nhãn cầu teo nhỏ hoặc không có nhãn cầu, khuyết thiếu xương hàm, gây ảnh hưởng nặng nề tới cấu trúc và chức năng khuôn mặt bệnh nhân.
2.Cơ chế bệnh sinh
Thuyết nụ mầm của Rhatke (1832), Dursy (1869) và His (1888) cho rằng quá trình hình thành môi và vòm miệng là do các nụ mặt dính liền với nhau. Nếu vì một nguyên nhân nào đó tác động (nội tại hoặc ngoại lai) khiến quá trình phát triển và gắn dính nụ mặt bị ảnh hưởng, sẽ dẫn đến dị tật bẩm sinh hàm mặt tương ứng.
Từ học thuyết trên ta có thể có những loại khe hở sau:
- Khe hở môi giữa hàm trên: do 2 nụ không dính nhau.
- Khe hở môi bên hàm trên: khi nụ hàm trên không dính nụ mũi trong.
- Khe hở môi dưới: khi 2 nụ hàm dưới không dính nhau.
- Khe hở ngang mặt: khi nụ hàm trên không dính nụ hàm dưới.
- Khe hở chéo mặt: khi nụ mũi ngoài không dính nụ hàm trên.
- Khe hở môi vòm miệng mềm: 2 nụ ngang sau không dính.
- Khe hở môi vòm miệng cứng: 2 nụ ngang trước không dính.
Lưu ý:
- Có thể có khe hở môi mà không có khe hở hàm, nhưng ngược lại thì không thể.
- Có thể có khe hở vòm miệng mềm mà không có khe hở vòm miệng cứng, nhưng ngược lại thì không thể.
3.Nguyên nhân
Có 2 loại nguyên nhân gây ra dị tật bẩm sinh hàm mặt (bao gồm cả khe hở chéo mặt Tessier số 4):
Nguyên nhân ngoại lai
- Yếu tố lý học: nhiệt học, cơ học, phóng xạ.
- Yếu tố hóa học: thai thiếu oxy, suy dinh dưỡng, rối loạn nội tiết, nhiễm độc thai nghén.
- Yếu tố sinh vật: Mắc bệnh do virus lúc mang thai (cúm), vi khuẩn và độc tố, ký sinh trùng.
- Yếu tố thần kinh: (người mẹ hoảng sợ, stress, trầm cảm)
Nguyên nhân nội tại
- Yếu tố di truyền.
- Sự khiếm khuyết về mặt sinh vật của tế bào sinh dục.
- Ảnh hưởng của độ tuổi sinh nở và nòi giống (vd: mẹ trên 40 tuổi)
Thường nguyên nhân ngoại lai chiếm 70% trường hợp dị tật bẩm sinh hàm mặt (kể cả những yếu tố không biết), còn 30% là do những yếu tố nội tại.
4.Phân loại dị tật bẩm sinh hàm mặt
Có 4 loại khe hở lớn trong các dị tật bẩm sinh hàm mặt:
4.1. Khe hở môi và hàm
Dị tật khe hở môi có đặc điểm khe hở ở phần môi đỏ và da, không tổn thương xuống phần xương mấu hàm. Phân loại theo các mức độ:
- Nhẹ (độ 1⁄3): môi đỏ có khuyết hướng lên trên.
- Trung bình (độ 2⁄3): Khe hở liên quan đến môi đỏ và nửa phần da của môi trên.
- Nặng (độ 3/3): toàn bộ môi trên bị chia từ môi đỏ đến hốc mũi (khe hở môi toàn bộ), đi kèm biến dạng cánh mũi.
Dị tật khe hở hàm có đặc điểm hiện phần xương trước lỗ răng cửa (lỗ khẩu cái trước) theo các mức độ:
- Nhẹ: có vết hằn nhẹ ở vùng răng cửa bên hàm trên.
- Trung bình: có khe hở ở vùng xương ổ răng.
- Nặng: có khe hở xương đến lỗ răng cửa.
4.2. Khe hở vòm miệng cứng và vòm miệng mềm
Khe hở vòm miệng mềm (buồm hầu):
- Khe hở lưỡi gà.
- Khe hở lưỡi gà và khe hở 1/3 giữa vòm miệng mềm.
- Khe hở vòm miệng mềm toàn bộ.
Khe hở vòm miệng cứng:
- Khe hở đến 1/3 sau.
- Khe hở đến 1/3 giữa.
- Khe hở vòm miệng đến khu vực lỗ răng cửa.
4.3. Khe hở phối hợp môi và vòm miệng
Là loại dị tật kết hợp cả khe hở môi và vòm miệng với nhau, thường phức tạp và khó xử lý hơn.
4.4. Khe hở đặc biệt khác
Bao gồm khe hở môi trên giữa, khe hở môi dưới, khe hở chéo mặt, khe hở ngang mặt. Những loại dị tật này thường ít thấy trên mặt và tỉ lệ xảy ra rất hiếm.
Để chẩn đoán chính xác loại dị tật bẩm sinh hàm mặt, cần phân tích và đánh giá những yếu tố sau:
- Phía bên của khe hở: Một bên (phải hoặc trái) hay cả hai bên.
- Mức độ khe hở nhiều hay ít: Không toàn bộ, toàn bộ, hoặc độ 1, độ 2, độ 3
- Đánh giá sơ bộ nguyên nhân gây dị tật: ví dụ khe hở môi toàn bộ có thể do virus cúm; khe hở môi độ 1 hai bên có thể do yếu tố di truyền...
5.Các biện pháp điều trị
Để điều trị các dị tật bẩm sinh hàm mặt cần phải phối hợp chặt chẽ nhiều chuyên khoa (gọi là điều trị phức hợp). Việc điều trị phức hợp này kéo dài từ lúc trẻ mới sinh đến tận khi trưởng thành (20-25 tuổi). Trong đó việc điều trị phẫu thuật có thể can thiệp từ lúc vài tháng tuổi tùy thuộc vào tình trạng dị tật, cơ địa, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân.
Hiện phương thức phẫu thuật điều trị khe hở chéo mặt thường không được mô tả rõ ràng khiến cho việc điều trị triệt để gặp khó khăn, bệnh nhân thường phải phẫu thuật nhiều lần để sửa chữa. Việc phẫu thuật bình thường đã phức tạp, việc sửa chữa mổ sai lại càng khó khăn hơn cũng như ảnh hưởng đến tâm lý, kinh tế gia đình người bệnh. Vì vậy những trẻ có dị tật bẩm sinh hàm mặt phức tạp cần được đưa đến khám, chẩn đoán và điều trị bởi những bác sĩ giàu kinh nghiệm và có kỹ năng về việc điều trị các khe hở mặt.
Việc hồi sức và chăm sóc hậu phẫu cũng đóng vai trò quan trọng tới kết quả phẫu thuật và cần được thực hiện tại những bệnh viện, trung tâm y tế lớn với đội ngũ nhân viên y tế có chuyên môn sâu.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Trẻ hơn 4 tháng tuổi chưa biết với đồ trước mặt, chưa biết quay mặt lại khi mẹ gọi có phải là dấu hiệu của chậm phát triển trí tuệ không?
Hiện bé nhà em đã được 4 tháng 10 ngày tuổi. Nhưng không hiểu sao bé chưa biết quay mặt lại khi nghe mẹ gọi, chưa đòi khi mẹ đi quá, cũng không ê a trò chuyện mà chỉ cười khi mọi người trêu đùa, bé cũng chưa biết với tay để lấy đồ trước mặt ạ. Bé nhà em có những biểu hiện như vậy có phải là dấu hiệu của chậm phát triển trí tuệ không ạ?
- 1 trả lời
- 2548 lượt xem
Trẻ sinh non lúc 34 tuần bú ít, ngủ nhiều, khò khè, da vàng thì có cần cho đi khám không?
Em sinh bé lúc thai mới được 34 tuần. Nay bé đã được 12 ngày rồi, tuy nhiên bé 2-3 ngày mới chịu đi ị. Phân có hạt, màu thẫm ạ. Bé bú ít nhưng ngủ nhiều, còn bị khò khè nữa. Em cân cho bé thì thấy sụt 100gr. Ngoài ra, hiện giờ da bé nhà em vẫn thấy vàng. Em có phơi nắng cho bé hàng ngày ạ. Với tình trạng của bé thì em có cần cho bé đi khám bác sĩ không ạ?
- 1 trả lời
- 1385 lượt xem
Bé thường chảy nước mắt khi bị cảm lạnh, điều này có bình thường không?
Bé nhà tôi thường chảy nước mắt khi bị cảm lạnh. Tôi phải làm gì để khắc phục tình trạng này, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 3774 lượt xem
Trẻ bị mặt và tròng mắt hơi vàng là có bị bệnh gì không?
Sau khi em sinh bé ở bệnh viện Từ Dũ được 4 ngày thì em thấy mặt và tròng mắt của bé nhà em hơi vàng. Đến nay em vẫn thấy mặt và tròng mắt của bé chưa hết vàng. Em cho bé bú mẹ hoàn toàn. Bình thường bé đi tiêu phân vàng, bé vẫn ăn, ngủ và chơi bình thường. Bé bị vàng như vậy là có bị làm sao không? Ngoài ra, mấy ngày gần đây, vào 3 ngày khác nhau thì bé có bị ọc sữa lên cả mũi. Mỗi ngày bị một lần như thế. Em thấy mũi bé cũng khụt khịt. Em phải làm gì để hết tình trạng khụt khịt ở mũi bé ạ?
- 1 trả lời
- 866 lượt xem
Mắt và mặt của trẻ 2 tuần tuổi vẫn vàng thì có làm sao không?
Bé nhà em sinh ra phải chiếu đèn 2 ngày mới được về nhà. Tầm nửa tháng sau em cho bé đi khám lại thì bác sĩ đo các chỉ số bilirubin qua da của bé là: ngực 15,7, tráng 16,7, đuồi 15,9 thì có bình thường không ạ? Em thấy mắt và mặt bé vẫn vàng, đi tiêu phân vàng và bú sữa bình thường.
- 1 trả lời
- 568 lượt xem
Chắp mắt ban đầu có thể nhỏ như hạt hoa anh túc – sau vài ngày hoặc vài tuần – sẽ phát triển lên kích cỡ bằng một hạt đậu. Bạn có thể thấy mắt bé bị rách một chút, nhưng tình trạng này không lây nhiễm.
Triệu chứng sốt ở trẻ sơ sinh là gì? Điều trị sốt như thế nào? Các biến chứng của nó là gì? Cha mẹ hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây để có thể chăm sóc một cách tốt nhất khi bé bị sốt nhé!
Lợi ích của tiêm phòng vắc xin bại liệt là gì? Lịch tiêm chủng như thế nào? Cần lưu ý những gì trước khi cho bé tiêm phòng vắc xin bại liệt? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây!
Vắc xin DTaP bảo vệ bé chống lại 3 bệnh: bạch hầu, ho gà và uốn ván.
Trẻ em từ 2 tuổi trở lên bị bệnh cúm thường có nhiều biến chứng nghiêm trọng. Trong giai đoạn 2015-2016, cúm có liên quan đến cái chết của hơn 80 trẻ em ở nước Mỹ.





