Điều trị tổn thương sụn chêm khớp gối
1. Nguyên nhân rách sụn chêm
Sụn chêm nằm ở đầu gối, thuộc dạng sụn xơ có dạng giống chữ C. Mỗi đầu gối có hai sụn chêm, nằm ở giữa đầu xương đùi và xương chày.
Chức năng chính của sụn chêm là đón nhận những áp lực cho va đập vào đầu gối và là một lớp mềm ngăn cách giữa xương của khớp gối. Tổn thương sụn chêm khớp gối thường gặp nhất là đứt rách sụn chêm gây hạn chế vận động và đau đớn.
Nguyên nhân gây rách sụn chêm:
- Ở người trẻ rách sụn chêm có thể xảy ra sau một chấn thương đột ngột trong thể thao, tai nạn giao thông khi ở trạng thái gối gấp và chân bị vặn xoắn.
- Ở người lớn tuổi sụn chêm thường bị rách do thoái hóa, đứng ngồi đột ngột.
2. Triệu chứng rách sụn chêm
Với các sụn chêm rách nhỏ có cảm giác đau nhẹ và sưng khớp gối, thường kéo dài từ 2-3 tuần.
Với rách sụn chêm có các triệu chứng điển hình như sau:
2.1 Rách sụn chêm mảng nhỏ
- Đau ở khu vực khe khớp lan dần lên trung tâm khớp gối.
- Sưng xuất hiện muộn sau 2-3 ngày.
- Có thể dẫn đến cứng, giảm khả năng vận động của khớp gối khi gấp khớp gối.
- Đau tăng lên khi ngồi xổm. Nếu không được điều trị tình trạng đau có thể kéo dài.
2.2 Với rách sụn chêm mảng lớn
Mảng rách có khả năng di chuyển vào khe khớp là nguyên nhân gây kẹt khớp, khóa khớp làm cho bệnh nhân không thể duỗi thẳng khớp gối được. Xuất hiện sưng hoặc cứng khớp sau chấn thương từ 2-3 ngày.
Ở những bệnh nhân lớn tuổi, rách sụn chêm có thể không biết. Bệnh nhân chỉ biết cảm giác đau khớp gối khi ngồi xổm hoặc khi gối vặn xoắn. Đau và sưng nhẹ khớp gối thường là triệu chứng duy nhất.
3. Điều trị không phẫu thuật của một vết rách sụn chêm
Điều trị không phẫu thuật là phương pháp điều trị rách sụn chêm khớp gối được chỉ định trong các trường hợp sau:
- Những tổn thương vừa và nhỏ nằm ở rìa bên ngoài của sụn.
- Các triệu chứng của chấn thương có dấu hiệu sẽ tự lành lại được.
- Đầu gối còn khả năng cử động ổn định và phạm vi chuyển động của khớp không bị hư hỏng quá nhiều.
- Bệnh nhân vẫn thực hiện được các hoạt động hàng ngày như bình thường.
Điều trị không phẫu thuật sẽ giúp phục hồi các tổn thương ở sụn chêm, bằng bốn hoạt động chính:
- Nghỉ ngơi, tránh vận động mạnh, cường độ cao.
- Chườm đá: sử dụng túi chườm lạnh, một vài lần một ngày.
- Băng ép bằng một loại băng có tính đàn hồi để ngăn chặn sưng thêm và mất máu.
- Nâng cao chân so với tim bằng cách kê một cái gối bên dưới hoặc gác chân lên một miếng đệm cao hơn khi bạn nằm sẽ giúp giảm sưng khớp gối.
4. Phẫu thuật nội soi hồi phục tổn thương sụn chêm
Dựa vào mức độ nghiêm trọng của tổn thương và các kết quả chẩn đoán hình ảnh của khớp (chụp X quang và chụp cộng hưởng từ MRI), tuổi, và mức độ hoạt động thể chất hàng ngày của bệnh nhân, bác sĩ phẫu thuật sẽ quyết định phẫu thuật là cần thiết hay không.
4.1 Chỉ định và chống chỉ định phẫu thuật
Mục đích: Giảm đau và trả người bệnh về lại sinh hoạt bình thường. Giữ lại chức năng của sụn chêm và giảm hiện tượng thoái hóa khớp.
Chỉ định khâu lại sụn chêm: Rách dọc, rách mới trước 4 tuần, rách vùng có máu nuôi dưỡng.
Chỉ định cắt tạo hình sụn chêm: Rách cũ trên 6 tuần, rách vùng vô mạch.
Chống chỉ định phẫu thuật với các trường hợp: Rách sụn chêm độ I, II không ảnh hưởng đến chức năng, viêm nhiễm vùng khớp gối.
4.2 Các bước chuẩn bị phẫu thuật
Người thực hiện: Bác sĩ chuyên ngành chấn thương chỉnh hình có chứng chỉ nội soi khớp.
Phương tiện: bộ dụng cụ nội soi khớp, dàn máy nội soi khớp
Người bệnh:
- Gây tê tủy sống.
- Được giải thích đầy đủ về quy trình phẫu thuật.
Hồ sơ bệnh án đầy đủ và được xem xét kỹ.
4.3 Các bước tiến hành phẫu thuật
Kiểm tra người bệnh: Đủ sức khỏe để làm phẫu thuật.
Nguyên tắc cắt tạo hình sụn chêm:
- Cắt tiết kiệm phần rách.
- Chừa lại phần giáp bao khớp để giữ vững khớp và chịu lực.
Tùy theo vị trí rách ta có thể khâu từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài hay cố định bằng dụng cụ.
- Kỹ thuật khâu từ trong ra, chỉ định: Rách sừng sau, 1/3 giữa, rách quai xách lớn, rách sát bao khớp, ghép sụn chêm.
- Kỹ thuật khâu từ ngoài vào: Chỉ định: Rách sừng trước, 1/3 giữa, rách đứng dọc, rách quai xách nhỏ.
- Cố định bằng dụng cụ: Chỉ định: rách sừng sau, 1/3 giữa, rách quai xách, rách đứng dọc.
Sau mổ, chân được bất động bằng nẹp trong thời gian 3 tuần. Nếu phải khâu sụn chêm thì thời gian bất động sẽ lâu hơn để giúp liền sụn.
Tổn thương sụn chêm có thể được điều trị một cách dễ dàng nếu sớm phát hiện và được áp dụng phương pháp điều trị hợp lý. Thời gian phục hồi còn tùy thuộc vào tình trạng tổn thương của sụn chêm. Tuy nhiên, áp dụng các bài tập vật lý trị liệu sau điều trị sẽ giúp cho khả năng phục hồi cao hơn.
Tổn thương dây chằng chéo trước là thương tổn thường gặp nhất trong nhóm chấn thương khớp gối. Hàng năm, tại Mỹ khoảng 200.000 bị tổn thương dây chằng chéo trước và hơn nửa số đó phải điều trị bằng phấu thuật.
Xương quai xanh có tác dụng rất quan trọng, là nơi treo xương cánh tay vào thân. Gãy xương quai xanh là một chấn thương thường gặp ở vùng vai, trong trường hợp ngã hoặc chấn thương do tai nạn giao thông.
Hội thấp khớp học Hoa Kỳ (American College of Rheumatology, ARC) đã đưa ra một số tiêu chuẩn để chẩn đoán chính xác thoái hóa khớp gối. Những biểu hiện của thoái hóa khớp gối bao gồm: xuất hiện gai xương dưới sụn, mất dần sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn, cử động khớp đau, có tiếng lục khục, lệch trục khớp...
X-quang có vai trò quan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý khớp gối. Nó là một trong những xét nghiệm nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh và dùng phân biệt giữa các bệnh lý khớp gối khác nhau.
Xương đùi là phần xương chắc khỏe nhất trong cơ thể vì thế phải có lực tác động rất mạnh mới có thể làm gãy thân xương đùi. Xương đùi cũng là xương dài nhất, mỗi vị trí gãy sẽ có đặc điểm và biện pháp xử trí khác nhau.
Rách sụn chêm là một trong những chấn thương đầu gối phổ biến nhất. Bất kỳ hoạt động nào khiến đầu gối bị vặn hoặc xoay mạnh, đặc biệt là khi dồn toàn bộ trọng lượng cơ thể lên đầu gối, đều có thể dẫn đến rách sụn chêm.
Ung thư sụn là một loại ung thư hiếm gặp, bắt đầu phát sinh từ các tế bào sụn. Ung thư sụn thường chủ yếu xảy ra ở xương chậu, hông và vai nhưng cũng có những trường hợp xảy ra ở cột sống.
Gãy sụn tăng trưởng hay gãy mảng tăng trưởng là tình trạng tổn thương ở phần sụn nằm gần các đầu xương của trẻ. Sụn tăng trưởng có ở các xương dài của cơ thể, ví dụ như xương đùi, xương quay và xương trụ của cẳng tay. Sụn tăng trưởng là phần xương cứng lại sau cùng và là phần mềm nhất, yếu nhất của cấu trúc xương, thậm chí đôi khi còn yếu hơn các dây chằng và gân xung quanh. Do xương của trẻ em yếu hơn xương người lớn nên những chấn thương vốn chỉ gây bong gân ở người lớn có thể gây gãy sụn tăng trưởng ở trẻ.
Có nhiều loại viêm khớp có thể xảy ra ở đầu gối. Mỗi loại có biểu hiện khác nhau nhưng các triệu chứng chung thường gặp của viêm khớp gồm có sưng và đau khớp.
Viêm bao hoạt dịch khớp gối là tình trạng viêm túi chứa dịch lỏng ở đầu gối. Bao hoạt dịch có vai trò giảm ma sát và tạo thành lớp đệm cho các điểm chịu áp lực giữa xương và gân, cơ và da quanh khớp.





