1

Cấp cứu điều trị thành công ca bệnh nặng do nhiễm khuẩn màng não cầu - Bệnh viện 108

Viêm màng não mô cầu khuẩn (Meningococcal meningitis) là tình trạng nhiễm khuẩn nặng màng não (tổ chức bao phủ não và tuỷ sống) và nhiễm khuẩn huyết, phát triển mạnh vào mùa đông xuân tại các nước đang phát triển.

Vi khuẩn màng não cầu:

  • Là một loại vi khuẩn gram âm, sống cộng sinh ở niêm mạc đường hô hấp trên.
  • Khoảng 5-10% người khỏe mạnh có vi khuẩn này ở niêm mạc mũi họng.
  • Khi có sự mất cân bằng trong mối tương tác giữa vi khuẩn và cơ thể người, vi khuẩn sẽ gây bệnh cho người với nhiều thể bệnh khác nhau 
  • Thể nhiễm khuẩn huyết tối cấp tính thường có tỷ lệ tử vong rất cao.

Lây truyền:

  • Qua đường hô hấp
  • Phát triển thành dịch trong mùa đông-xuân
  • Đặc biệt ở những nơi tập trung đông người, trong các tập thể thanh thiếu niên như nhà trẻ, trường học, doanh trại quân đội, đơn vị huấn luyện tân binh.

Dự phòng:

  • Chủ yếu là phát hiện, cách ly và điều trị sớm người bệnh bằng kháng sinh đặc hiệu nhằm tránh lây lan cho cộng đồng;
  • Phun thuốc khử trùng (dung dịch cloramin B 2,5%) tại nơi có ổ dịch và tại buồng bệnh;
  • Uống thuốc kháng sinh điều trị dự phòng đối với những người tiếp xúc gần với bệnh nhân.
  • Có thể tiêm vac-xin phòng nhiễm màng não cầu cho một số đối tượng có nguy cơ cao.

Ca bệnh:

Bệnh nhân là chiến sĩ trẻ 20 tuổi, vào viện ngày thứ 2 của bệnh trong tình trạng nguy kịch, đe dọa sự sống với các triệu chứng sốt cao, nôn nhiều, rối loạn ý thức, suy hô hấp, suy tuần hoàn, viêm cơ tim, suy thận, ban xuất huyết hoại tử toàn thân do rối loạn đông máu nặng.

Bệnh nhân đã được khẩn trương làm các xét nghiệm và chẩn đoán xác định mắc bệnh do vi khuẩn màng não cầu thể tối cấp tính (nhiễm khuẩn huyết kèm viêm màng não có biến chứng suy đa tạng, rối loạn đông máu nặng). Đây là một thể bệnh rất nguy hiểm, có tỷ lệ tử vong cao, nguy cơ lây nhiễm cao cho những người tiếp xúc gần.

Bệnh nhân nhanh chóng được cách ly và áp dụng các biện pháp điều trị hồi sức tích cực như sử dụng kháng sinh phù hợp để tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh, lọc máu liêu tục điều trị suy đa tạng, điều chỉnh các rối loạn đông máu và các biện pháp hồi sức tổng hợp khác. Sau 3 ngày điều trị tích cực, bệnh nhân tỉnh trở lại, rối loạn chức năng các cơ quan dần hồi phục.

Bệnh nhân khỏi bệnh hoàn toàn và ra viện về đơn vị công tác sau 15 ngày điều trị tại Bệnh viện.

Nguồn: Bệnh viện 108

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Video có thể bạn quan tâm
Điều trị phục hồi chức năng sau mổ não Điều trị phục hồi chức năng sau mổ não 02:39
Điều trị phục hồi chức năng sau mổ não
 MẸ BỆNH NHÂN NGỠ NGÀNG KHI CON VIẾT ĐÚNG TÊN MÌNH Sau ca mổ xuất huyết não cách đây hơn 3 tháng, anh Nguyễn Đức Thịnh (47 tuổi,...
 5 năm trước
 1101 Lượt xem
THOÁT KHỎI NHỮNG NGÀY “NẰM BẤT ĐỘNG” DO RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH NGOẠI BIÊN NHỜ PHƯƠNG PHÁP TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TIỀN ĐÌNH - DUY NHẤT TẠI VIỆT NAM. THOÁT KHỎI NHỮNG NGÀY “NẰM BẤT ĐỘNG” DO RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH NGOẠI BIÊN NHỜ PHƯƠNG PHÁP TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TIỀN ĐÌNH - DUY NHẤT TẠI VIỆT NAM. 03:01
THOÁT KHỎI NHỮNG NGÀY “NẰM BẤT ĐỘNG” DO RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH NGOẠI BIÊN NHỜ PHƯƠNG PHÁP TẬP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TIỀN ĐÌNH - DUY NHẤT TẠI VIỆT NAM.
 Từng điều trị thành công hàng ngàn trường hợp RỐI LOẠN TIỀN ĐÌNH NGOẠI BIÊN do THẠCH_NHĨ_LẠC_CHỖ, PGS.TS.BS LÊ MINH KỲ, Phụ trách chuyên...
 5 năm trước
 1791 Lượt xem
Tin liên quan
Rối loạn căng thẳng cấp tính là gì?
Rối loạn căng thẳng cấp tính là gì?

Rối loạn căng thẳng cấp tính (acute stress disorder) thường xảy ra trong vòng một tháng sau sự kiện gây căng thẳng. Các triệu chứng cũng tương tự như triệu chứng của rối loạn căng thẳng sau sang chấn (post-traumatic stress disorder) nhưng rối loạn căng thẳng cấp tính chỉ là tạm thời, thường kéo dài từ vài ngày đến một tháng. Tuy nhiên, một số người sau khi bị rối loạn căng thẳng cấp tính lại tiếp tục gặp phải tình trạng rối loạn căng thẳng sau sang chấn.

Căng thẳng ảnh hưởng đến thị lực như thế nào?
Căng thẳng ảnh hưởng đến thị lực như thế nào?

Căng thẳng và lo lắng gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe, bao gồm cả thị lực. Căng thẳng có thể gây giảm thị lực và các thay đổi về thị lực khác như nhìn mờ, nhạy cảm với ánh sáng hoặc thậm chí mất thị lực.

Bệnh lý thần kinh do rượu: Triệu chứng, điều trị và phòng ngừa
Bệnh lý thần kinh do rượu: Triệu chứng, điều trị và phòng ngừa

Bệnh lý thần kinh do rượu sẽ ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thương vĩnh viễn ở hệ thần kinh và các bộ phận khác của cơ thể nếu người bệnh tiếp tục uống rượu. Điều này có thể dẫn đến khuyết tật, đau đớn mạn tính và thậm chí là tử vong.

Căng thẳng ảnh hưởng như thế nào đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)?
Căng thẳng ảnh hưởng như thế nào đến bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD)?

Hầu hết mọi người đều phải trải qua căng thẳng vào một thời điểm nào đó trong đời nhưng căng thẳng mạn tính sẽ gây ra nhiều tác động tiêu cực đến sức khỏe. Ở những người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, căng thẳng có thể khiến các triệu chứng tái phát. Giữ tinh thần thoải mái, ít căng thẳng có thể giúp làm giảm nguy cơ tái phát và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.

Căng thẳng ảnh hưởng như thế nào đến bệnh Crohn?
Căng thẳng ảnh hưởng như thế nào đến bệnh Crohn?

Nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể làm tăng tình trạng viêm ở ruột và làm mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột, những điều này sẽ khiến cho bệnh Crohn trở nên nghiêm trọng hơn.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây