Bệnh tắc ruột có nguy hiểm?
Mức độ và hậu quả của tắc ruột phụ thuộc vào nhiều yếu tố như:Cơ chế tắc: tắc do thắt nghẹt hay bít tắcVị trí tắc: tắc ở đầu ruột hay cuối ruột, tắc ở ruột non hay phần đại tràngMức độ tắc: tắc hoàn toàn hay tắc không hoàn toànTắc ruột cơ học hay tắc ruột cơ năng
Nguyên nhân chính gây ra tắc ruột và những biến chứng nguy hiểm của tắc ruột bao gồm:
1. Tắc ruột do bít tắc
Khi bị tắc ruột, đoạn ruột trên chỗ tắc sẽ bị ảnh hưởng rất nhanh chóng và ngày càng trở lên nghiêm trọng. Ngay khi xảy ra tắc, cơ chế thần kinh điều khiển các sóng nhu động ruột tăng mạnh nhằm chống lại sự cản trở. Sự xuất hiện của các sóng nhu động này khiến bệnh nhân có các cơn đau bụng như rắn bò trên thành bụng. Sau đó, các sóng nhu động giảm dần và biến mất khi thành ruột tổn thương.
Phần ruột trên chỗ tắc sẽ bị ảnh hưởng, dần dần dãn ra. Khoảng 70% tổng số hơi trong ống tiêu hóa là do cơ thể nuốt vào, còn lại 30% là do vi khuẩn phân hủy thức ăn, thức ăn lên men và tạo thành hơi.
Dịch trong ruột là do hệ tiêu hóa bài tiết, trung bình một ngày ruột bài tiết khoảng 6 lít dịch. Chính sự gia tăng áp lực trong lòng ruột đã làm ứ trệ tĩnh mạch, quá trình tưới máu mao mạch ở thành ruột bị giảm, dẫn đến niêm mạc ruột bị phù nề, xung huyết, quá trình hấp thu dịch tiêu hóa giảm dần cho đến khi mất hẳn, gây ứ đọng dịch.
Khi dịch và hơi trong ruột quá nhiều, để giảm bớt sự gia tăng áp lực, cơ thể sẽ có phản xạ trào dịch và nôn. Tuy nhiên, nôn quá nhiều, nhất là trong trường hợp tắc ruột cao lại càng khiến tình trạng bệnh nhân trở nên nghiêm trọng hơn với sự mất nước, rối loạn chất điện giải, thăng bằng kiềm toan.
Phần ruột dưới chỗ tắc trong giai đoạn đầu thì nhu động ruột đẩy phân và hơi xuống dưới khiến ruột xẹp xuống.
Trường hợp tắc ở đại tràng, hậu quả tại chỗ và hậu quả toàn thân cũng tương tự như tắc ruột non nhưng xảy ra chậm hơn và muộn hơn. Tình trạng tăng sóng nhu động trên chỗ tắc ít xảy ra hơn, ruột giãn ro do chứa nhiều khí và dịch nên xảy ra hiện tượng vi khuẩn ở đại tràng lên men. Khi áp lực trong đại tràng cao, nếu van Bauhin mở ra thì cũng sẽ có các hiện tượng tương tự như tắc ruột non do dịch và hơi ở trên chỗ tắc trào lên ruột non. Nhưng nếu van này tự chủ, đóng kín, không đẩy được hơi, dịch và phân ở đại tràng lên ruột non được khiến đại tràng chịu áp lực quá lớn, giãn to đến một mức độ nhất định có thể gây vỡ đại tràng.
2. Tắc ruột do thắt nghẹt
Trong các loại tắc ruột do thắt nghẹt thì xoắn ruột là tình trạng phổ biến và cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng nhất. Các biểu hiện rối loạn tại chỗ và toàn thân một phần do ảnh hưởng của ruột trên chỗ tắc gây ra giống với tắc ruột do bít tắc nhưng chủ yếu là do quai ruột và mạch máu mạc bị nghẹt gây nên.
Xoắn ruột rất nguy hiểm. Khi quai ruột bị xoắn, giãn to ra, chủ yếu chứa dịch, rất ít hơi trong ruột, trừ trường hợp xoắn đại tràng. Phần quai ruột xoắn có chứa nhiều hơi là do vi khuẩn lên men tạo ra. Tĩnh mạch ở quai ruột xoắn bị ứ trệ làm máu và huyết tương thoát vào trong quai ruột bị xoắn và ổ bụng. Ruột xoắn khiến thành ruột bị tổn thương, niêm mạc ruột bị phá hủy. Các chất chứa trong lòng ruột dẫn bị vi khuẩn tấn công khiến cho nội độc tố của vi khuẩn thoát vào ổ phúc mạc. Ổ phúc mạc sẽ tái hấp thu các nội độc tố này. Do đó, cơ thể sẽ bị sốc nhiễm độc, nhiễm khuẩn, kết hợp với sốc do giảm khối lượng tuần hoàn. Ngoài ra, động mạch mạc treo tương ứng cũng bị nghẹt khiến cho máu không lưu thông được tới quai ruột. Việc không cung cấp đủ máu khiến quai ruột bị hoại tử, vỡ vào ổ ủng dẫn đến viêm phúc mạc.
Nếu bị lồng ruột cấp tính thì phần cổ của khối lồng có thể làm nghẹt đoạn ruột lòng và mạc treo tương ứng gây chảy máu lòng ruột, hoại tử khối lồng.
3. Tắc ruột do liệt ruột
Hậu quả của tắc ruột do liệt ruột gây ra bởi các bệnh cấp tính ở ổ bụng có thể thay đổi theo từng nguyên nhân. Trường hợp liệt ruột cơ năng do phản xạ thì hậu quả toàn thân và hậu quả tại chỗ diễn ra muộn và từ từ. Ruột bị chướng từ rất sớm, chủ yếu là chương hơi. Vì không có nhu động nên bệnh nhân ít bị nôn. Cùng với đói, lượng dịch ứ đọng trong lòng ruột không nhiều, ruột bị tổn thương muộn, cơ chế tái hấp thu của ruột được bảo tồn lâu hơn. Bị tắc ruột trong trường hợp này không nguy hiểm như các trường hợp kể trên do hậu quả toàn thân và tại chỗ khá nhẹ.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Xuất huyết tiêu hóa dần dần sẽ gây thiếu máu, nôn ra máu hoặc phân có lẫn máu. Chảy máu trong nghiêm trọng thậm chí còn có thể đe dọa đến tính mạng và cần can thiệp phẫu thuật.
Nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể làm tăng tình trạng viêm ở ruột và làm mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột, những điều này sẽ khiến cho bệnh Crohn trở nên nghiêm trọng hơn.
Bệnh Crohn là một dạng bệnh viêm ruột, có các biểu hiện thường gặp là đau bụng, tiêu chảy nặng, mệt mỏi, sụt cân và thiếu hụt dinh dưỡng.





