Bệnh lý dây thần kinh V - Bệnh viện 103
1. Đau dây thần kinh V.
Đau dây thần kinh V là biểu hiện những rối loạn cảm giác thể hiện bằng triệu chứng đau rất khác nhau ở vùng mà nhánh thần kinh đó chi phối. Tham gia vào cảm giác đau của dây thần kinh V được chia ra hai phần: trung ương và ngoại vi. Phần trung ương từ hạch Gasser lên cầu não, rồi lên vỏ não; còn phần ngoại vi từ hạch Gasser trở ra.
Bản chất của đau dây thần kinh V là do bị tổn thương các sợi cảm giác và sợi thần kinh thực vật. Khi có một kích thích xuất hiện ở một vị trí nào đó của hệ thống xúc giác sẽ tạo nên những xung động đau. Những xung động này được truyền đến vùng não trung gian (cầu não) và đến các nhân cảm giác của vỏ đại não. Sự hình thành cảm giác đau xảy ra ở vỏ đại não. Để đáp ứng với những hưng phấn đau ở vỏ đại não phải có những thay đổi nhất định ở một vùng nào đó. Khi có những kích thích đau kéo dài, ở vỏ đại não sẽ hình thành một ổ kích thích liên tục bị hưng phấn và làm cho bệnh nhân cảm giác đau thường xuyên liên tục.
1.1. Bệnh căn và bệnh sinh:
Chưa có quan điểm thống nhất về đau dây thần kinh V. Người ta chia đau dây thần kinh V ra hai hình thái:
- Đau dây thần kinh V nguyên phát: là loại đau thần kinh nhưng không thấy có những thay đổi giải phẫu hoặc rối loạn chức năng nào dẫn đến đau.
- Đau dây thần kinh V triệu chứng (đau thứ phát): là triệu chứng của các quá trình bệnh lý xảy ra ở ngay dây thần kinh hay ở tổ chức kế cận hoặc cơ quan có liên quan.
Nhiều tác giả cho rằng không có ranh giới giữa các dạng đau dây thần kinh V, mà tất cả chỉ thể hiện triệu chứng đau mà sự phát sinh của nó có thể rất khác nhau. Nó có thể xuất hiện do có sự thay đổi nào đó ở thần kinh ngoại vi hay ở thần kinh trung ương của dây thần kinh V.
Ngày nay đau dây thần kinh V được coi là một bệnh do nhiều căn nguyên, trong đó người ta kể đến: Hẹp lỗ xương chỗ thần kinh thoát ra; viêm dính màng não cứng ở vùng gần hạch Gasser; rối loạn vận chuyển dịch não tủy do viêm khoang dưới nhện cũ, do sự biến đổi các phần tử keo trong nhánh thần kinh và bệnh lý của cơ quan nhai.
Ở tuổi già đau dây thần kinh V thường phát sinh do thay đổi mạch máu nuôi dưỡng vỏ và sợi thần kinh bên trong. Đây là hậu quả của sự rối loạn quá trình cung cấp máu ở tuổi già. Quá trình này kéo dài sẽ dẫn đến teo dây thần kinh ngoại vi làm thay đổi lớp vỏ bọc ngoài và giảm số lượng sợi thần kinh ở bên trong. Thay vào đó là tổ chức liên kết đệm tăng sinh gây nên hiện tượng xơ cứng dây thần kinh.
1.2. Lâm sàng của đau dây thần kinh V:
* Đau dây thần kinh V là một bệnh mãn tính kéo dài mà biểu hiện chủ yếu là rối loạn cảm giác đau.
- Đau thành từng cơn: Lúc đầu cơn đau còn thưa, khoảng cách thời gian giữa hai cơn đau còn ngắn, sau cơn đau mau dần, từ chỗ 2 – 3 ngày một cơn, tăng lên 1 ngày một cơn, rồi đến 2 – 3 cơn một ngày. Đến giai đoạn cuối có thể thấy đau liên tục.
- Thời gian đau: Đau không nhất thiết vào một thời gian nào trong ngày, nhưng qua quan sát trên lâm sàng người ta thấy đau nhiều về đêm. Thời gian kéo dài của mỗi cơn đau cũng tăng dần từ một vài phút đến 20 – 30 phút một cơn cho đến đau kéo dài liên tục.
- Cường độ đau: Cường độ đau cũng khác nhau tùy theo từng giai đoạn, lúc đầu đau ít bệnh nhân có thể chịu đựng được, sau tăng dần lên đến mức đau như dao cắt, như đâm khoan, đau bỏng rát, đau như có dòng điện chạy qua.Trong cơn đau bệnh nhân phải dùng tay ôm lấy mặt nhăn nhó liên tục. Ngoài cơn đau bệnh nhân cảm thấy nhẹ nhõm dễ chịu.
- Vị trí đau: Nhìn chung vị trí đau tương ứng với vùng mà nhánh thần kinh bị tổn thương chi phối. Khi ấn mạnh vào nhánh thần kinh bị tổn thương thấy cơn đau có thể tạm ngừng lại hoặc hết đau đột ngột. Khi bệnh đã kéo dài, có những cơn đau liên tục thì vị trí đau rất khó xác định. Lúc này đau có thể lan ra vùng lân cận, lan xuyên theo các hướng khác nhau, lan lên đầu rất khó xác định vùng chi phối cảm giác. Cần chú ý một số bệnh nhân cảm giác đau lan vào một số răng lành, làm cho cả bệnh nhân và bác sĩ nha khoa nhầm với cơn đau tủy cấp hay viêm quanh cuống cấp, nên đã dẫn đến xử lý tủy hoặc nhổ răng không đúng chỉ định. Sau khi điều trị răng bệnh nhân vẫn còn nguyên cảm giác đau.
* Đau kèm theo những rối loạn thần kinh thực vật: Ở nửa mặt đau thấy đỏ mặt, ra nhiều mồ hôi một cách rõ rệt so với bên không đau. Chảy nước mắt ở mắt cùng bên, có khi kèm theo đồng tử giãn. Tăng tiết nước bọt và nước mũi cùng bên, có khi bệnh nhân có cảm giác nề, tê bì một nửa mặt.
* Để chẩn đoán định khu nghi ngờ bị tổn thương, người ta tiến hành phong bế kiểm tra nhánh thần kinh đó bằng dung dịch Novocain 1%. Sau khi phong bế đau sẽ hết hoặc giảm hẳn trong thời gian thuốc còn tác dụng. Cần chú ý không được chọc mũi kim vào trong dây thần kinh mà chỉ phong bế xung quanh dây để tránh gây tổn thương cũng làm cho đau tăng lên.
1.3. Điều trị đau dây thần kinh V:
Điều trị đau dây thần kinh V được chia ra làm hai phương pháp: Điều trị bảo tồn và điều trị phẫu thuật:
a) Điều trị bảo tồn: Có thể áp dụng kết hợp các phương pháp sau:
– Dùng các thuốc chống viêm giảm đau toàn thân trong điều trị hội chứng dây rễ thần kinh.
– Cắt hoặc giảm quá trình dẫn truyền cảm giác đau từ ổ kích thích ngoại vi lên trung ương để cắt cung phản xạ đau. Phương pháp này có thể tiến hành:
- Phong bế Novocain hoặc Lidocain nồng độ 0,5 – 1%. Theo Vedensky thì chỉ nên dùng thuốc có nồng độ thấp, không nên dùng loại 1,5 – 2% vì thấy kết quả kém. Người ta phong bế vào nhánh thần kinh chi phối vùng đau 5 – 10ml Novocain 0,5 – 1% và tiêm 2 – 3 lần trong một tuần. Mỗi đợt điều trị tiêm 15 – 20 lần. Theo một số tác giả cho biết có khi không đạt được kết quả ngay sau khi tiêm mà có khi 2 – 3 tuần sau khi ngừng tiêm mới có kết quả tốt.
- Sử dụng thuốc làm giảm dẫn truyền ở các xi-nap.
- Tegretol: liều dùng 100mg – 500mg/ngày. Dùng trong 2-3 tuần. Cần phải theo dõi công thức máu khi dùng thuốc.
- Phelepcin: cũng dùng liều như Tegretol.
- Có bệnh nhân có kết quả tốt với Tegretol, nhưng cũng có bệnh nhân có kết quả tốt với Phelepcin. Chỉ dùng một loại, không dùng kết hợp 2 loại trên.
- Dùng kèm với Tegretol hoặc Phelepcin liều Pipolphen 0,025 × ½ ống, tiêm bắp sẽ tăng tácdụng của thuốc.
b) Điều trị phẫu thuật: Thực chất là sử dụng phương pháp phá hủy nhánh của V bị viêm:
– Tiêm xơ nhánh thần kinh V bằng cồn: Tiêm vào trong nhánh dây thần kinh V cồn 80% có pha Novocain hoặc Lidocain 2-4% để gây thoái hóa xơ dây thần kinh làm mất dẫn truyền cảm giác. Phương pháp này cũng được gọi là phương pháp cắt dây thần kinh bằng hóa chất. Liều tiêm 0,5ml cồn 80% đã pha Novocain 2%. Phải tiêm đúng trong dây thần kinh, nếu tiêm ngoài dây sẽ gây dính và kích thích càng làm cho đau tăng lên.
– Tiêm gây bỏng phá hủy dây thần kinh bằng 1 ml nước cất 2 lần đun sôi ở 100oC.
– Cắt phá hủy nhánh thần kinh V bằng cách bộc lộ dây, cắt đoạn và đốt đầu xa bằng dao điện hoặc hóa chất. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ thực hiện được ở cơ sở chuyên khoa có kết hợp với chuyên khoa phẫu thuật thần kinh.
2. Viêm dây thần kinh V
Trong lâm sàng, viêm dây thần kinh V có thể xảy ra do những nguyên nhân sau:
- Do viêm nhiễm tổ chức phần mềm hoặc xương có liên quan tại chỗ.
- Do nhiễm trùng toàn thân: sau bệnh cúm, sởi và một số bệnh virus khác.
- Do nhiễm độc hóa chất mãn tính, đặc biệt là nhiễm độc kim loại nặng như chì.
- Do chấn thương cơ học gây dập nát hoặc bị chèn ép bởi các mảnh xương gãy.
- Do trạng thái dị ứng với các yếu tố khác nhau. Đặc biệt chú ý đến những người có mang hàm giả hay gây phản ứng dị ứng của cơ thể.
2.1. Lâm sàng của viêm dây thần kinh V.
- Đau liên tục ở nhánh thần kinh chi phối khu vực. Đau tự phát thường xuyên âm ỉ, đau tăng khi tỳ ép vào nhánh thần kinh chi phối. Đau không thành cơn, không có cơn đau kịch phát.
- Kèm theo đau có những rối loạn cảm giác khác như tê ở một nhóm răng, tê ở bờ lợi, môi trên hoặc môi dưới… Đôi khi có hiện tượng dị cảm như kiến bò ở một vùng nào đó hoặc những cảm giác khó chịu khác.
- Khám thần kinh thấy có rối loạn cảm giác ở dạng tăng hoặc giảm liên tục. Những thay đổi cảm giác này rất khác nhau tùy thời điểm khám và tùy vị trí.
- Khi viêm dây thần kinh V rất hay có phản ứng của các răng liên quan. Thử phản ứng tủy răng bằng dòng điện có thể thấy giảm hoặc mất hẳn phản ứng tủy răng ở vùng thần kinh bị tổn thương chi phối.
- Ấn vào các điểm thoát ra, hoặc trên đường đi của các nhánh thần kinh thấy có điểm đau (điểm Valex). Nếu phong bế nhánh thần kinh bị viêm cùng giảm đau hoặc hết đau tạm thời.
2.2. Điều trị:
Điều trị viêm dây thần kinh V cần phải căn cứ vào các yếu tố gây bệnh và thực hiện các liệu pháp điều trị chống viêm.
a) Điều trị theo nguyên nhân:
- Điều trị các bệnh nhiễm trùng tại chỗ và lân cận, ngăn chặn lan tràn các ổ mủ vào vùng có nhánh dây thần kinh V. Chích tháo mủ kịp thời các ổ áp xe vùng hàm mặt.
- Điều trị tốt các bệnh nhiễm virus, tránh những biến chứng toàn thân do virus gây nên.
- Phòng tránh nhiễm các chất độc hóa học và kim loại nặng. Khi đã bị nhiễm độc cần được điều trị kịp thời và đúng phương pháp để tránh để lại hậu quả lâu dài.
Gỡ dính thần kinh, giải phóng chèn ép do các mảnh xương vụn gây thương tổn dập nát dây thần kinh V, nhất là nhánh thần kinh dưới ổ mắt.
b) Điều trị chống viêm: Gồm các biện pháp sau:
– Vật lý trị liệu: Có thể áp dụng các biện pháp sau:
- Dùng sóng ngắn và hồng ngoại trong những trường hợp viêm nhiễm trùng tại chỗ.
- Kích thích thần kinh bằng dòng điện một chiều: dưới tác dụng của dòng điện quá trình trao đổi chất sẽ tăng lên ở mô thần kinh và pH thay đổi chuyển hướng kiềm và quá trình tái sinh tổ chức thần kinh tăng lên.
- Điện phân vitamin B1, Novocain, hoặc châm cứu (thủy châm) cũng có tác dụng điều trị viêm dây thần kinh V.
– Sử dụng các thuốc chống viêm giảm đau kết hợp với vitamin nhóm B liều cao.
Nhìn chung, viêm dây thần kinh V nếu được điều trị kịp thời hợp lý thường cho kết quả khả quan, có thể khỏi hoàn toàn.
Nguồn: Bệnh viện 103
Stress có ảnh hưởng đến cảm xúc và tinh thần. Ví dụ, cảm giác cáu kỉnh, luôn trong trạng thái lo lắng, bất an hoặc những thay đổi tâm trạng bất thường khác có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress.
Bệnh lý thần kinh do rượu sẽ ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thương vĩnh viễn ở hệ thần kinh và các bộ phận khác của cơ thể nếu người bệnh tiếp tục uống rượu. Điều này có thể dẫn đến khuyết tật, đau đớn mạn tính và thậm chí là tử vong.
Nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể là yếu tố khiến cho bệnh zona thần kinh (hay còn gọi là bệnh giời leo) tái phát.
Bệnh Parkinson là một bệnh do thoái hóa hệ thần kinh trung ương. Theo ước tính, đến nay có trên 10 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh Parkinson. Những người bị bệnh này gặp phải các triệu chứng chính là run chân tay, co thắt và đau cơ, dẫn đến đi lại vận động khó khăn. Một số người mắc bệnh Parkinson còn bị sa sút trí tuệ hay lú lẫn, đặc biệt là khi tình trạng bệnh tiến triển nặng.
Bệnh Parkinson là một dạng rối loạn thần kinh do thoái hóa, có các triệu chứng điển hình là run chân tay, mất khả năng kiểm soát vận động của cơ, dẫn đến khó khăn khi cử động, đi lại, nói chuyện… Bệnh còn gây ra nhiều triệu chứng khác và khi bệnh tiến triển sang các giai đoạn sau thì các triệu chứng càng nặng.





