Thế nào là tăng huyết áp kháng trị?
Thế nào là tăng huyết áp kháng trị?
Ước tính có khoảng 1,28 tỷ người lớn bị tăng huyết áp (cao huyết áp) trên toàn thế giới và chỉ có 20% số trường hợp tăng huyết áp được kiểm soát tốt. (1) Huyết áp cao kéo dài làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ và bệnh thận.
Mặc dù dùng thuốc là phương pháp điều trị chính cho bệnh tăng huyết áp nhưng ở một số người, dù đã dùng nhiều loại thuốc mà huyết áp vẫn không hạ. Nếu huyết áp vẫn ở mức cao dù đã dùng nhiều loại thuốc khác nhau thì tình trạng này được gọi là tăng huyết áp kháng trị.
Tăng huyết áp kháng trị là gì?
Tăng huyết áp kháng trị được định nghĩa là tình trạng huyết áp vẫn duy trì ở mức trên 140/90 mmHg dù đã dùng ba nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp trở lên, bao gồm thuốc lợi tiểu, ở liều cao nhất có thể dung nạp trong vòng 6 tháng.
Tăng huyết áp kháng trị, tăng huyết áp bất trị và tăng huyết áp không được kiểm soát
Điểm khác biệt chính giữa tăng huyết áp kháng trị (resistant hypertension), tăng huyết áp bất trị (refractory hypertension) và tăng huyết áp không được kiểm soát (uncontrolled hypertension) là ở số lượng thuốc được sử dụng để điều trị tăng huyết áp:
- Tăng huyết áp không được kiểm soát là khi tình trạng tăng huyết áp không được điều trị hoặc không đáp ứng với điều trị.
- Tăng huyết áp bất trị là khi huyết áp vẫn ở mức cao mặc dù đã dùng 5 nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp trở lên ở liều cao nhất có thể dung nạp.
Tăng huyết áp nguyên phát và tăng huyết áp thứ phát
Tăng huyết áp được chia thành hai loại là tăng huyết áp nguyên nhân và tăng huyết áp thứ phát. Tăng huyết áp nguyên phát là tình trạng tăng huyết áp do tuổi tác, di truyền hoặc lối sống. Tăng huyết áp thứ phát là tăng huyết áp do một bệnh lý hoặc thuốc gây ra.
Tăng huyết áp có thể xảy ra do cả nguyên nhân nguyên phát và thứ phát cùng một lúc. Các yếu tố nguyên phát và thứ phát gây tăng huyết áp có thể tăng thêm theo thời gian, khiến cho tình trạng trở nên nặng hơn, trở thành tăng huyết áp không được kiểm soát, tăng huyết áp kháng trị hoặc bất trị.
Nguyên nhân gây tăng huyết áp kháng trị
Tăng huyết áp kháng trị có thể là do một bệnh lý và hoặc thuốc gây ra. Một số bệnh lý có thể dẫn đến tăng huyết áp kháng trị là:
- Bệnh thận
- Rối loạn nội tiết tố
- Chứng ngưng thở khi ngủ và các rối loạn giấc ngủ khác
Hầu hết các trường hợp tăng huyết áp kháng trị đều không rõ nguyên nhân. Tình trạng này có thể là kết quả của nhiều yếu tố, chẳng hạn như:
- Di truyền
- Hút thuốc
- Uống quá nhiều rượu
- Ăn nhiều muối
- Béo phì
- Lối sống ít vận động
Cũng có những trường hợp tăng huyết áp “giả kháng trị”, có nghĩa là có vẻ như bị tăng huyết áp kháng trị nhưng thực tế là đang có những yếu tố ảnh hưởng đến việc điều trị hoặc kết quả đo huyết áp.
Ví dụ, nếu dùng thuốc điều trị tăng huyết áp không đúng liều hoặc dùng không đúng giờ hàng ngày thì thuốc sẽ cho hiệu quả kém và huyết áp vẫn cao.
Ngoài ra, nếu đo huyết áp không đúng, kết quả sẽ không chính xác (cao hơn thực tế) và gây hiểu nhầm là tăng huyết áp kháng trị.
Và cũng có đôi khi, huyết áp tăng cao hơn bình thường do những yếu tố tác động nhất thời. Ví dụ, tâm lý căng thẳng khi ở bệnh viện có thể làm tăng huyết áp. Những trường hợp như vậy không được coi là tăng huyết áp kháng trị.
Triệu chứng của tăng huyết áp kháng trị
Đa số người bị tăng huyết áp không có triệu chứng nhưng khi có, các triệu chứng thường là:
- Đau đầu
- Đau ngực
- Nhịp tim bất thường
- Cảm giác lo lắng, hồi hộp
- Chóng mặt
- Buồn nôn và nôn mửa
- Khó thở
- Chảy máu mũi
- Thay đổi thị lực
- Ù tai
Loại thuốc điều trị tăng huyết áp kháng trị
Nghiên cứu cho thấy rằng có thể sử dụng spironolactone làm loại thuốc thứ tư để điều trị tăng huyết áp kháng trị.
Trong những trường hợp gặp tác dụng bất lợi khi dùng spironolactone hoặc không thể dùng thuốc vì những lý do khác, bác sĩ có thể kê amiloride, doxazosin, bisoprolol hoặc clonidine.
Các phương pháp điều trị không cần dùng thuốc
Ngoài dùng thêm thuốc, bạn có thể thực hiện các biện pháp dưới đây để kiểm soát tăng huyết áp:
- Giảm lượng muối trong chế độ ăn
- Hạn chế bia rượu
- Tập thể dục thường xuyên
- Giảm cân nếu thừa cân và duy trì cân nặng khỏe mạnh
- Kiểm tra xem mình có đang dùng thuốc điều trị tăng huyết áp đúng cách hay không
- Điều trị các bệnh lý ảnh hưởng đến huyết áp, chẳng hạn như bệnh thận, ngưng thở khi ngủ và rối loạn nội tiết tố
Tóm tắt bài viết
Tăng huyết áp kháng trị là khi huyết áp vẫn ở mức trên 140/90 mmHg ngay cả khi đã dùng ba nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp trở lên, bao gồm thuốc lợi tiểu, ở liều tối đa. Tình trạng này có thể do các bệnh lý khác hoặc thuốc gây nên.
Nếu huyết áp vẫn cao dù đã dùng nhiều loại thuốc điều trị, hãy xem lại xem bản thân đã dùng đúng thuốc đúng cách hay chưa và thực hiện các thay đổi lối sống theo khuyến nghị của bác sĩ. Trong trường hợp đã dùng thuốc đúng cách và thay đổi lối sống mà tình hình vẫn không cải thiện, có thể bạn sẽ phải dùng thêm thuốc, chẳng hạn như spironolactone.
Nhiều người sợ đi máy bay do sợ độ cao, sợ không gian hẹp hoặc lo sợ xảy ra tai nạn. Đối với những người mắc các bệnh mạn tính như bệnh tim mạch hoặc tăng huyết áp, mỗi chuyến bay lại đi kèm những nỗi lo khác.
Khó thở có thể là do rất nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có tăng huyết áp và tăng áp phổi.
Lo âu có thể gây ra nhiều triệu chứng về thể chất, trong đó có tăng huyết áp. Mặc dù lo lắng không gây ra tình trạng tăng huyết áp mạn tính nhưng cả lo lắng ngắn hạn và mạn tính đều có thể khiến huyết áp tăng vọt.
Huyết áp là áp lực máu tác động lên thành động mạch. Huyết áp tăng và giảm một chút vào các thời điểm khác nhau trong ngày là điều bình thường. Tuy nhiên, khi huyết áp duy trì ở mức cao trong một thời gian dài thì được gọi là tăng huyết áp, hay cao huyết áp. Đây là một vấn đề rất phổ biến.
Mọi ca phẫu thuật đều tiềm ẩn rủi ro nhất định, ngay cả khi đó chỉ là ca phẫu thuật thông thường. Một trong những rủi ro là thay đổi huyết áp. Có nhiều nguyên nhân khiến huyết áp tăng cao sau phẫu thuật. Nguy cơ gặp phải tình trạng này phụ thuộc vào loại phẫu thuật, phương pháp vô cảm và thuốc được sử dụng, và người bệnh có vấn đề về huyết áp trước đó hay không.








