Yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp ở bệnh nhân bệnh thận mạn
1. Mối liên hệ giữa tăng huyết áp và suy thận
Tăng huyết áp xảy ra ở 85-95% bệnh nhân mắc bệnh thận mạn. Tăng huyết áp và bệnh thận mạn về bản chất có mối quan hệ qua lại. Cụ thể như sau:
- Khoảng 23,3% người bị tăng huyết áp không có bệnh thận mạn
- Khoảng 35,8% người bị cao huyết áp có bệnh thận mạn giai đoạn 1
- Khoảng 48,1% người bị cao huyết áp có bệnh thận mạn giai đoạn 2
- Khoảng 59.9% người bị cao huyết áp có bệnh thận mạn giai đoạn 3, 4 và 5
Người bị tăng huyết áp kéo dài sẽ làm các mạch máu bị tổn thương và dần bị phá hủy, gây cản trở quá trình cung cấp máu đến các cơ quan trong cơ thể, trong đó có thận.
Huyết áp cao còn phá hủy bộ lọc ở cầu thận khiến thận không thể hoàn thành được chức năng lọc bỏ các chất cặn bã, dư thừa ra khỏi cơ thể. Tình trạng nước ứ thừa trong hệ máu máu không được kiểm soát là một trong những nguyên nhân khiến huyết áp tăng cao. Hai tình trạng này tác động lẫn nhau, bổ sung cho nhau khiến tăng huyết áp lâu dài không kiểm soát sẽ dẫn đến suy thận mạn tính.
Bên cạnh đó, thận có chức năng giữ cho huyết áp ổn định. Nếu thận bị tổn thương thì huyết áp cũng sẽ bị ảnh hưởng, khó điều hòa huyết áp hơn. Ở bệnh nhân suy thận, tình trạng tăng huyết áp khiến người bệnh càng nặng thêm. Tăng huyết áp được coi là một trong những biến chứng nguy hiểm của bệnh thận mạn.
Mặc dù bệnh tăng huyết áp có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc nhưng có rất ít bệnh nhân có thể đạt được mục tiêu điều trị. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng, hiện nay nhận thức về huyết áp đã được cải thiện rất nhiều, tỷ lệ kiểm soát bệnh huyết áp đã tăng lên 50%.
2. Tại sao các bệnh lý về thận lại tăng huyết áp?
2.1.Các khiếm khuyết vốn có ở thận
Những khiếm khuyết vốn có ở thận là nền tảng gây nên tăng huyết áp. Những bệnh nhân bị suy thận do xơ cứng cầu thận gây ra bởi tăng huyết áp, ghép thận từ thận của người huyết áp bình thường sẽ làm bình thường hóa huyết áp của họ.
Nếu bệnh nhân có các biểu hiện nguy hiểm do tăng huyết áp thì có số lượng nephron thấp hơn nhóm chứng không có tăng huyết áp qua sinh thiết. Bản chất những khiếm khuyết của thận, nhất là những khiếm khuyết liên quan đến việc đào thải natri hoặc các yếu tố trung gian làm tăng sức cản ngoại vi tiếp theo vẫn chưa thực sự rõ ràng.
Quá tải thể tích trong tăng huyết áp do bệnh nhân thận mạn đã được chỉ rõ bởi hiệu quả siêu lọc hoặc thuốc lợi tiểu trong việc kiểm soát huyết áp ở người bệnh thận mạn. Quá trình lọc máu thời gian ngắn đã chỉ ra rằng một số ít bệnh nhân cần phải dùng thuốc huyết áp để kiểm soát huyết áp.
2.3. Cân bằng muối dương tính
Cân bằng muối dương tính cũng là một trong những yếu tố quan trong gây tăng huyết áp ở bệnh nhân thận mạn. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng giữ muối và nước được duy trì bởi tăng sức cản ngoại biên có thể gây tăng huyết áp.
2.4. Hoạt hóa hệ renin-angiotensin (RAS)
Yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp ở bệnh nhân thận mạn được ghi nhận còn do hoạt hóa hệ renin-angiotensin (RAS). Cắt thận hai bên hoặc ức chế RAS với các bệnh nhân lọc máu với huyết áp khó kiểm soát dù đã tiến hành siêu lọc tối ưu sẽ giúp kiểm soát huyết áp hiệu quả. Điều đó cho thấy, suy thận là nguồn gốc của tăng renin. Ngoài tác động gây tăng huyết áp trực tiếp, hoạt hóa hệ RAS còn góp phần khiến bệnh nhân bị thận mạn mắc tăng huyết áp do hệ thần kinh giao cảm bị kích thích. Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện cho thấy bệnh nhân bị thận mạn có tăng hoạt tính thần kinh giao cảm có thể đáp ứng tốt với ức chế men chuyển, cắt thận hai bên. Ngay cả khi chức năng thận vẫn được bảo tồn thì hoạt hóa RAS vẫn là yếu tố quan trọng gây tăng huyết áp ở các bệnh nhân mắc bệnh lý về thận.
2.5. Ức chế calcineurin (tacrolimus và cyclosporine) và glucocorticoid
Ức chế calcineurin (tacrolimus và cyclosporine) và glucocorticoid cũng là một trong những nguyên nhân gây tăng huyết áp ở bệnh nhân được ghép thận. Ức chế calcineurin có thể gây co mạch. Ngoài ra, hẹp động mạch thận của thận ghép cũng có thể gây tăng huyết áp sau ghép thận.
3. Cách phòng tránh
Để phòng tránh tăng huyết áp ở bệnh nhân thận mạn và phòng tránh bệnh thận ở người cao huyết áp, cần lưu ý:
- Thực hiện lối sống lành mạnh
- Cần có một thực đơn dành cho người cao huyết áp khoa học và phù hợp: Hạn chế muối và các chất béo bão hòa. Tăng cường các loại rau củ quả, thực phẩm giàu chất xơ
- Tăng cường luyện tập thể dục thể thao. Nên vận động ít nhất 30 - 45 phút mỗi ngày, 4 - 5 ngày/tuần
- Kiểm soát cân nặng, chỉ số khối cơ thể
- Kiêng hoàn toàn rượu, bia, không hút thuốc lá, không sử dụng các chất gây nghiện
- Ngủ đủ giấc, nghỉ ngơi hợp lý.
Tăng huyết áp và bệnh thận mạn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Bệnh nhân bị thận mạn có nguy cơ bị tăng huyết áp rất cao. Tăng huyết áp cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của thận, dẫn đến nhiều bệnh lý về thận và tim mạch.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Xuất huyết tiêu hóa dần dần sẽ gây thiếu máu, nôn ra máu hoặc phân có lẫn máu. Chảy máu trong nghiêm trọng thậm chí còn có thể đe dọa đến tính mạng và cần can thiệp phẫu thuật.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.
Ngoài căng thẳng và thói quen ăn nhiều thực phẩm có tính axit cao, vi khuẩn HP cũng là một nguyên nhân gây loét dạ dày.
Nếu không được điều trị, tình trạng loét đường tiêu hóa sẽ ngày càng nặng và dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như thủng dạ dày – ruột, chảy máu trong và hình thành sẹo.





