Xử trí vết thương hàm mặt - bệnh viện 103
1. Đại cương.
– Trong chiến tranh các vết thương có thể do các vũ khí thô sơ, vũ khí lạnh, nhưng đa phần là các vũ khí nổ: đạn, pháo, mìn. Chiến tranh càng ngày càng khốc liệt cả về tính chất, qui mô và cả vũ khí. Vết thương đa dạng.
– Trong thời bình: vết thương được đề cập nhiều nhất là do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, rồi đến tai nạn sinh hoạt.
– Các vết thương ngày càng đa dạng, phức tạp.
2. Đặc điểm, và nguyên tắc xử lý vết thương hoả khí:
2.1. Những thương tổn trong chiến tranh
– Vũ khí sát thương thông thường: vũ khí lạnh, hoả khí, thương tổn thông thường hoặc kết hợp.
– Vũ khí sát thương hàng loạt: hoá học, hạt nhân, sinh học.
2.2. Vết thương do hoả khí
– Có 2 yếu tố chính đó là tốc độ của viên đạn và mảnh phá: mảnh phá có nhiều hình dạng mới tạo những vết thương hết sức nguy hiểm.
Động năng của viên đạn và mảnh phá được tính theo công thức: mv2/ 2g (m là khối lượng của viên đạn, mảnh phá, v là vận tốc, g là gia tốc).
– Tổn thương do tác động trực tiếp, trên đường đi chúng gây bầm giập, rách nát tổ chức tế bào tạo ống vết thương.
– Tổn thương do tác động phía bên: năng lượng của đạn, mảnh phá còn được phân bố sang phía bên của đường ống vết thương gây ra một vùng rung chuyển chấn động trong mô tế bào trong thời gian ngắn (1700micro giây) và sau vài mili giây trở thành khoang thương tổn mô tế bào chính thức (bị chấn động phân tử ttế bào ở xung quanh ống vết thương rỉ huyết, phù, trạng thái cận sinh).
– Là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn kị khí phát triển.
– Khi có vận tốc nhanh ống vết thương có đường kính gấp 4 lần đường kính đạn hoặc mảnh phá. Lỗ vào vết thương thường nhỏ, lỗ ra lớn.
2.3. Nguyên tắc chung xử trí vết thương do hoả khí
– Theo Petrov: vết thương chiến tranh coi như vết thương bị nhiễm khuẩn, phải mổ sớm trong 12 giờ đầu. Theo Friedrich dựa trên thực nghiệm kết luận: nếu trong 6 giờ đầu vi khuẩn còn nung bệnh ở vết thương, nếu vết thương được cắt lọc như một cái u và được khâu lại thì nó có thể khỏi theo ý định ban đầu. Theo các nhà ngoại khoa Liên xô cũ không được khâu kín kì đầu.
– Tranh thủ xử trí kì đầu sớm. càng sớm càng tốt: trước 6 gìơ, nếu có kháng sinh thì có thể xử trí trong khoảng 6 – 12 giờ.
– Chấp hành đúng điều lệ xử trí vết thương chiến tranh:
+ Cắt lọc tổ chức bị hoại tử triệt để, lấy dị vật, rạch rộng các ngõ ngách, cầm máu kĩ, rử sạch vết thương, dẫn lưu tốt.
+ Không khâu kín kì đầu….
+ Dùng kháng sinh liều cao, tăng sức đề kháng…
2.4. Đặc điểm vết thương và nguyên tắc xử lí vết thương thời bình
– Vết thương đa phần là do tai nạn giao thông.
– Gặp nhiều vết thương, đa chấn thương kết hợp: sọ não, bụng, chân tay
– Vết thương phức tạp, đa dạng hình thái, bẩn do dị vật.v.v
– Một phần nào cũng phải xử lí nhhư vết thương chiến tranh, xong không đến mức phải rạch rộng tối đa, cắt lọc triệt để.
3. Đặc điểm giải phẫu vùng hàm mặt
– Vùng hàm mặt là vùng bộc lộ mang tính thẩm mĩ cao.
– Các tổ chức trên mặt rất quí, hiếm như làn môi đỏ, mí mắt, mũi môi v.v.
– Là cửa ngõ của nhiều cơ quan quan trọng: mũi, miệng.
– Có nhiều mạch máu cung cấp: chảy máu nhiều, vùng là động lực đẩy các vi khuẩn, dị vật ra. Dễ nhiễm khuẩn nhưng ít nguy hiểm
– Có nhiều xoang hốc tự nhiên: miệng, mũi, xoang hàm, dẫn lưu tốt, vết thương ít khi có vi khuẩn kị khí phát triển.
4. Nguyên tắc và kĩ thuật cơ bản xử lí vết thương hàm mặt
4.1. Phân loại: 3 loại
– Loại nhẹ: vết thương chợt, xây sát phần mềm, vết thương ít, gọn, gẫy răng, và bờ ổ răng.
– Loại vừa: những tổn thương phần mềm, sâu, rộng, mể xương, gẫy xương đơn giản không khuyết hổng.
– Loại nặng: những vết thường phần mềm rộng lớn, những khuyết hổng phần mềm, xương gãy vụn nát nhiều mảnh và khuyết hổng.
4.2. Nguyên tắc:
– Tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của Điều lệ xử trí vết thương chiến tranh. Có thể xử lý kì đầu muộn hơn một chút so với vết thương nơi khác (6 đến 36 giờ đầu).
– Rạch rộng vừa đủ, cắt lọc hết sức tiết kiệm tổ chức.
– Tuân thủ các mốc giải phẫu. Nếu xử trí tốt có thể khâu kín kì đầu, nhưng phải dẫn lưu triệt để.
– Nếu không phải khâu thưa, khâu định hướng và sẽ khâu kì hai sớm.
4.3. Cấp cứu bước đầu
– Phòng, chống ngạt thở.
– Phòng chống chảy máu.
– Phòng chống sốc.
Cần tiến hành đồng thời 3 bước trên cùng một lúc.
4.4. Xử trí vết thương cụ thể:
Tiến hành theo thứ tự các bước sau: tẩy rửa, cắt lọc và khâu vết thương.
– Khâu kín: các vết thương nhỏ, gọn sạch, không mất tổ chức. Khâu mũi rời thành từng lớp, không để khoảng trống.
– Khâu thưa và khâu định hướng: những vết thương phức tạp, có hoặc không mất tổ chức, bị ô nhiễm hay đến muộn. Khâu đúng vị trí các mốc giải phẫu.
– Nếu có thể tạo hình bằng các vạt kế cận che kín tổn khuyết nhỏ.
– Một số vết thương cụ thể như mí mắt, môi, mũi, tai, lưỡi
+ Mí mắt: khâu kéo, che phủ giác mạc tạm thời không để hở
+ Lưỡi: khâu phục hồi 3 lớp, tuân thủ hình thể tránh biến dạng.
+ Tai: Cần giữ gìn sụn vành tai: khâu che phủ hoặc giấu vào tổ chức sau tai;
+ Mũi: cố gắng che phủ sụn mũi, chú ý đường thở.
+ Miệng: chú ý thứ tự các lớp, các đường viền môi, ranh giới môi khô và ướt.
– Khâu trên cúc đệm, hay gối gạc: những vết thương quá rộng
– Khâu viền những vết thương mất tổ chức thông khoang, mũi, miệng.
Nguồn: Bệnh viện 103
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 900 lượt xem
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.
Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.
Có nhiều cách kiểm soát chứng đau nửa đầu, từ dùng thuốc cho đến các biện pháp điều trị tự nhiên. Nghiên cứu gần đây cho thấy hoa oải hương có thể làm giảm chứng đau nửa đầu. Hoa oải hương có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trị đau nửa đầu. Một trong số đó là sử dụng tinh dầu oải hương. Cùng tìm hiểu xem liệu điều trị đau nửa đầu bằng tinh dầu oải hương có hiệu quả hay không và cách sử dụng ra sao.





