Viêm da ECZEMA - Bệnh viện 103
1. Tình hình
1.1. Eczema
Là bệnh ngoài da phổ biến, ngày nay và trong tương lai do yêu cầu công nghiệp hoá, sử dụng nhiều hoá chất bệnh
Eczema nghề nghiệp sẽ ngày càng tăng lên.
1.2. Có thể định nghĩa
Eczema là một trạng thái viêm lớp nông của da cấp tính hay mạn tính, tiến triển từng đợt hay tái phát, lâm sàng biểu hiện bằng đám mảng đỏ da, mụn nước và ngứa, nguyên nhân phức tạp nội giới, ngoại giới nhưng bao giờ cũng có vai trò ” thể địa dị ứng”, về mô học có hiện tượng xốp bào ( Spongiosis).
1.3. Là bệnh da
Ngứa điển hình, mạn tính hay tái phát, điều trị còn khó khăn.
2. Nguyên nhân
Nguyên nhân phức tạp nhiều khi khó hoặc không phát hiện được. Có thể do :
2.1. Nguyên nhân ngoại giới
- Các yếu tố vật lý,hoá học, thực vật, sinh vật học đụng chạm vào da gây cảm ứng thành viêm da, eczema ( các chất này gọi là dị nguyên ). Ví dụ : ánh sáng, thuốc bôi, tiêm uống, các hoá chất dùng trong công nghiệp, trong gia đình (cao su, kền, crôm, xi măng, sơn…)
- Một số bệnh ngoài da gây ngứa ( nấm, ghẻ…) do điều trị không đúng cách ,chà xát, bôi thuốc linh tinh… có thể trở thành eczema thứ phát.
2.2. Nguyên nhân nội giới.
- Rối loạn chức phận nội tạng, rối loạn thần kinh, rối loạn nội tiết có thể là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây eczema.
- Dù nguyên nhân nội giới hay ngoại giới cũng đều có liên quan đến phản ứng đặc biệt của cơ thể dẫn đến phản ứng dị ứng ,bệnh nhân có ” thể địa dị ứng “.
- Theo Halpern, Coombs phản ứng eczema được xếp vào kiểu ” mẫn cảm tế bào trì hoãn” trong đó có vai trò của các tế bào lymphô mang ký ức kháng nguyên.
3. Triệu chứng .
3.1. Vị trí
Có tính chất bất kỳ ,vùng da nào cũng có thể bị eczema, tuy nhiên tuỳ theo từng thể lâm sàng hay ở vị trí nào ( sẽ trình bày ở phần thể lâm sàng ).
3.2. Tổn thương cơ bản
Tổn thương cơ bản trong bệnh eczema là đám mảng đỏ da và mụn nước, mụn nước là tổn thương điển hình của bệnh eczema, eczema phát triển qua 4 giai đoạn :
3.2.1. Giai đọan đỏ da
Bệnh bắt đầu bằng trên da xuất hiện vết hoặc đám đỏ, hơi nề, cộm nhẹ, ranh giới không rõ, rất ngứa – trên nền đỏ xung huyết nhìn kỹ thấy có những sẩn tròn lấm tấm như hạt kê ( thực chất là những mụn nước đang từ dưới đùn lên ) đây là phản ứng đầu tiên của biểu bì.
3.2.2. Giai đoạn mụn nước ( còn gọi là giai đoạn chảy nước )
Mụn nước ngày càng nhiều và xuất hiện trên khắp bề mặt đám tổn thương, mụn nước eczema có các đặc tính sau :
- Mụn nước nhỏ bằng đầu tăm, đầu kim 1-2 mm.
- Nông, tự vỡ.
- San sát bên nhau kín khắp bề mặt thương tổn .
- Đùn từ dưới lên hết lớp này đến lớp khác .
Đám tổn thương bề mặt chi chít các mụn nước. Mụn nước nông, tự vỡ và do ngứa gãi nên đám tổn thương bị trợt, chảy dịch nên còn gọi là giai đoạn chảy nước, giai đoạn này kéo dài nhiều ngày hoặc vài tuần, các mụn nước vỡ đi để lại điểm chợt nhỏ như châm kim ( còn gọi là giếng eczema của Devergie) nhiều điểm chợt liên kết thành đám mảng trợt , đỏ rỉ dịch , đồng thời dễ nhiễm khuẩn thứ phát có mủ, vẩy tiết..
3.3. Giai đọan lên da non
Giai đoạn này đám tổn thương giảm viêm, giảm xung huyết , giảm chảy dịch, các vết chợt khô, đóng vẩy, lên da non thành một lớp da nhẵn bóng như vỏ hành, nền da hơi nhiễm cộm, sẫm mầu hơn.
3.4. Giai đoạn liken hoá ,hằn cổ trâu
Eczema tiến triển lâu ngày da càng ngày càng sẫm mầu, tăng nhiễm cộm, bề mặt xù xì thô ráp , sờ nền cứng cộm, các hằn da nổi rõ, ở giữa các hằn da có các sẩn dẹt như trong bệnh lichen, quá trình này gọi là lichen hoá. Ngứa tồn tại dai dẳng.
- Giai đoạn đỏ da, mụn nước , chảy nước còn gọi là eczema giai đoạn cấp tính.
- Giai đoạn đóng vẩy da, nên da non, khô hơn gọi là eczema bán cấp.
- Giai đoạn lichen hoá , hằn cổ trâu được gọi là eczema mạn tính.
Chia thành 4 giai đoạn của eczema để dễ hiểu tiến triển cuả một eczema nhưng trên thực tế các giai đoạn không thực phân chia rõ rệt như vậy mà thường xen kẽ nhau, lồng vào nhau .
Ví dụ trên đám tổn thương có vùng là giai đoạn chảy dịch, có vùng đã bắt đầu lên da non , lúc đó phải đánh giá xem tổn thương giai đoạn nào chiếm ưu thế mà chẩn đoán giai đoạn cấp, bán cấp, hay mạn lichen hoá. Đã sang giai đoạn sau có khi vì một nguyên nhân nào đó ( chà xát, bôi thuốc không phù hợp) lại trở lại giai đoạn trước.
Ngứa là triệu chứng xuyên suốt, xuất hiện sớm nhất tồn tại dai dẳng, người ta coi bệnh eczema là bệnh da ngứa điển hình.
Tiến triển : mạn tính hay tái phát, nhiều đợt vượng bệnh, xen kẽ các giai đoạn tạm đỡ.
4. Các thể lâm sàng
4.1. Eczema tiếp xúc: ( contact eczema, contact dermatitis).
- Vị trí : xuát hiện đầu tiên ở vùng tiếp xúc thường là vùng hở, có khi in hình vật tiếp xúc ( ví dụ hình quai dép, hình dây đeo đồng hồ…)
- Tổn thương cơ bản : da đỏ xung huyết, có khi đỏ xung huyết mạnh, hơi nề, trên bề mặt có mụn nước, có khi có bọng nước, cấp tính trợt ướt, chảy dịch, phù nề. Có thể có hình thái mạn tính, khô, dầy cộm và có vảy da.
- Ngừng tiếp xúc bệnh thuyên giảm, tiếp xúc lại với dị ứng nguyên bệnh tái phát hoặc nặng lên.
- Làm thử ứng da (Skin test) với chất tiếp xúc ( dị ứng nguyên ) thường dương tính, thường làm test áp da, test con tem ( Patch test) nhưng không làm khi bệnh đang vượng hay đang điều trị corticoids.
- Một số dị ứng nguyên (Allergens) ngoại giới gây eczema tiếp xúc như : Nikel, potassium dichromate, fomaldehyte, xi măng, cao su, neomycin, Streptomycin…
- Eczema tiếp xúc có cơ chế miễn dịch thuộc típ IV tăng mẫn cảm loại hình chậm có vai trò lymphô T , khác với viêm da tiếp xúc không dị ứng ( nonallergic) thường gọi là viêm da tiếp xúc kích ứng ( irritant contact dermatitis) không có cơ chế miễn dịch dị ứng, thường do tiếp xúc các chất hoá học có nồng độ cao ( như acid và kiềm mạnh) và hầu như ai tiếp xúc đều bị ở vùng da tiếp xúc đó.
Điều trị :
- Phát hiện dị ứng nguyên tiếp xúc và tránh tiếp xúc với dị ứng nguyên.
- Mỡ corticoids tại chỗ.
- Corticoids uống khi bệnh lan rộng hay tổn thương ở mặt, sinh dục, uống vào buổi sáng.
4.2. Eczema thể địa , viêm da cơ địa ( Atopic dermatitis) (AD).
Viêm da cơ địa là biểu hiện ngoài da của cơ địa Atopy ( Atopic state, Atopic diathesis), 70 % số bệnh nhân có tiền sử gia đình bị hen, viêm mũi dị ứng, sốt mùa cỏ khô ( Hay fever) hoặc eczema. Khoảng 10 % trẻ em cớ một vài dạng biểu hiện của viêm da cơ địa .Có sự hình thành và tăng IgE còn gọi là viêm da tăng IgE, có một phản ứng tăng mẫn cảm do giải phóng chất hoạt mạnh từ tế bào Mastocytes hoặc Basophils.
Sinh bệnh học và miễn dịch học của viêm da Atopy (AD):
– Có tính chất gia đình rõ rệt, nếu cả hai cha mẹ bị bệnh dị ứng 79 % con cái bị AD, 73 trẻ em bị AD có tiền sử gia đình bị AD.
– Nghiên cưú về gen học gần đây phát hiện ở bệnh nhân AD thấy :
- Nhiễm sắc thể ( NST) 11913 chuỗi b của thụ thể có ái tính cao với IgE.
- NST 5931 – 33 là gen của các cytokins IL4. IL5, 6MCSF.
- NST 14911 – 1 là gen của Chymase của dưỡng bào (Mastocyte).
- NST 6q gen của HLA – DR.
- NST 16 p 11- 2-11.1 gen của thụ thể IL4.
– Vai trò của kháng thể Reagin trong bệnh sinh của AD đã được nghĩ đến .
– Trong bệnh AD miễn dịch trung gian tế bào bị suy giảm giảm sút tính phản ứng trong test da chậm như Tuberculine , Candidine…
– Tính hoá ứng động ở bệnh nhân AD bị giảm sút dễ bị nhiễm trùng khi bị sang chấn, xây xước hay bị nhiễm trùng tụ cầu vàng, 90% số bệnh nhân AD có phản ứng Coagulase dương tính với tụ cầu vàng, có thể nói tụ cầu vàng là vi khuẩn chiếm ưu thế trên da bệnh nhân AD và sự có mặt thường xuyên của tụ cầu trên da bệnh nhân AD dẫn đến khởi động sự giải phóng histamin, gây ngứa và viêm da trong AD.
– Bệnh nhân AD có mức Acetylcholine cao trong da, điều đó giải thích một phần ảnh hưởng của yếu tố xúc động trong bệnh AD.
– Có sự tăng cao hoạt tính của Nucleotid- Phosphodiesterase làm thuỷ phân nhanh chóng chất Nucleotid vòng, hậu quả là cAMP bị giảm sút nên tác dụng ức chế sản xuất histamin bị kém tác dụng, trong khi đó cGMP tăng cường, dẫn đến histamin được sản xuất quá mức ở bệnh nhân AD.
– Tiến triển mạn tính- các đợt vượng bệnh xen kẽ thời kỳ thuyên giảm , có khi chuyển thành hen hoặc sốt mùa cỏ khô.
– Các yếu tố làm trầm trọng bệnh là do dị nguyên hay do thức ăn, xúc động căng thẳng thần kinh, rối loạn kinh nguyệt, bệnh lý tuyến giáp, nhiễm tụ cầu đặc biệt là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), cần chú ý một số chất len dạ làm tăng bệnh.
Là một bệnh kinh diễn hay tái phát, các thương tổn lâm sàng chủ yếu là :
- Viêm da : dát đỏ kèm sẩn mụn nước.
- Hằn cổ trâu.
- Khô da, xây xước, nhiễm trùng thứ phát.
Bệnh hay gặp ở tuổi ấu thơ từ 2 tháng đến 2 tuổi, ở trẻ em, thanh thiếu niên và cả ở người lớn.
Dưới 7 tuổi chiếm 80- 90%, khoảng 10 % bệnh kéo dài đến tuổi trưởng thành.
4.2.1. Eczema thể địa tuổi sơ sinh và nhũ nhi , ấu thơ.
- (Infantile Atopic dermatitis) ( infancy) gặp ở trẻ từ 2 tuần đến 2 tuổi. Thường gặp ở trẻ bụ bẫm 2-3 tháng tuổi, ban đầu ở má, trán ( hình móng ngựa) , quanh miệng, đầu , sau có thể bị ở cổ, mặt duỗi, thân mình, bẹn. Tổn thương là dát đỏ, có nhiều mụn nước trên bề mặt, trợt, chảy dịch mạnh, nhiễm khuẩn thứ phát có mủ, vẩy tiết.
- Có thể kèm iả lỏng,viêm tai giữa.
4. 2.2. Thời kỳ trẻ em ( Child type atopic dermatitis)
- Trẻ em ( childhood) hoặc thanh thiếu niên ( Adolescent ) 2-3 tuổi đến 12- 20 tuổi. Là các đám mảng lichen hoá ( hằn cổ trâu ) dạng đĩa lúc đâu ở các mặt duỗi, đầu gối, cùi tay, sau lan đến các nếp gấp, ngoài ra có thể sẩn ngứa, da khô, hằn cổ trâu.
- Có khi kèm đục thuỷ tinh thể, viêm kết mạc.
4.2.3. Thời kỳ trưởng thành ( Adult type atopic dermatitis)
- Ở người lớn (Adult) chủ yếu là hằn cổ trâu, vị trí đặc biệt là các nếp kẽ lớn và bàn tay, ở nữ giới có thể có viêm núm vú, viêm môi.
- Tiến triển mạn tính, có khi chuyển thành hen hoặc sốt mùa cỏ khô.
4.2.4. Điều trị eczema thể địa cần chú ý một số điểm sau :
- Tránh các chất gây kích ứng da.
- Giữ nước cho da dùng cream, mỡ làm ẩm da ( Lacticare., A Derma exomega cream….) trong các đợt bệnh ổn định.
- Tắm nước hơi ấm nhưng không nóng, hạn chế xà phòng.
- Bôi mỡ glucocorticoids.
- Kháng sinh chống tụ cầu vàng khi có bội nhiễm nên dùng erythromycine.
- Kháng histamin tổng hợp.
- Corticoids đường toàn thân ( uống) nên hạn chế dùng, chỉ dùng cho giai đoạn vượng bệnh và dùng từng đợt ngắn.
- UVA , UVB, PUVA có hiệu quả.
4.3. Eczema vi khuẩn .
- Do dị ứng với độc tố của vi khuẩn tụ cầu, liên cầu hoặc độc tố của nấm Trichophyton, epidermophyton.
- Thường xuất hiện trên các vết xây xát da nhiễm khuẩn, vết côn trùng đốt, vết bỏng, lỗ rò, vết mổ…
- Vị trí thường ở cẳng chân một bên hoặc hai bên có khi quanh vết mổ, quanh lỗ dò, hay quanh tai sau viêm tai giữa chảy mủ.
- Đám tổn thương chợt , chảy dịch, có mủ dịch, vẩy tiết, giới hạn tương đối rõ.
- Quanh đám tổn thương có thể có một số mụn mủ, nhọt ” kiểu vệ tinh “.
- Có trường hợp ngoài đám tổn thương chính ở mặt, thân mình, các chi có các đám đỏ nhỏ, bề mặt lẩn mẩn sẩn , mụn nước và ngứa gọi là ” ban dị ứng thứ phát xa” .
4.4. Eczema thể đồng tiền ( Nummular eczema)
- Có đặc điểm là có các đám tổn thương hình tròn, oval như đồng xu (coinlike), ban đầu là đám đỏ tiết dịch, có mụn nước, sẩn, hơi nề, sau có vẩy tiết, vảy da, lichen hoá giới hạn rõ , thường khu trú ở thân mình, mặt duỗi của chi, trước xương chầy, mu bàn tay.
- Thường gặp ở đàn ông tuổi trung niên, nhất là mùa thu đông.
- Có ý kiến cho rằng eczema thể đồng tiền là một thể đặc biệt của eczema vi khuẩn, là ban dị ứng với ổ nhiễm khuẩn khu trú bên trong cơ thể. Hiện nay eczema thể đồng tiền là một phân thể của eczema thể địa ( Atopic eczema) nhưng IgE bình thường, tuy nhiên vấn đề này còn tranh luận.
- Mô bệnh học có tăng gai, xốp bào.
- Điều trị corticoids, có khi tiêm cortiocid dưới tổn thương, có thể bôi Coaltar.
- Kháng sinh toàn thân.
- PUVA khá hiệu quả .
4.5. Eczema da dầu , viêm da da dầu ( Seborrheic dermatitis)
- Là bệnh da mạn tính thường gặp có đặc tính là đỏ da và vẩy , vẩy mỡ ở vùng tuyến bã hoạt động mạnh như mặt, đầu và các nếp gấp. Thường gặp phần lớn ở người 20 – 50 tuổi, có thể gặp ở trẻ em ( những tháng đầu ), tuổi ấu thơ, niên thiếu. Nam thường bị nhiều hơn . Có thể địa di truyền ” thể địa da dầu “
- Vị trí thường gặp nhất là đầu, ở mặt thường bị ở lông mày, quanh mắt, giữa mũi, nếp mũi má. sau tai, có khi ở thân mình nhất là da vùng ức liên bả, các nếp nách , bẹn dưới vú, sinh dục. Tổn thương là đám mảng đỏ, trên có vẩy, vẩy mỡ có khi có sẩn trên bề mặt, giới hạn tương đối rõ, khô, nhưng vi thể có hiện tượng xốp bào.
- Mô bệnh học da có á sừng, tăng gai, xốp bào, chân bì viêm không đặc hiệu.
- Cần chẩn đoán phân biệt với vẩy nến, chốc, nấm da đầu, nấm mặt, nấm thân, lupus đỏ.
- Điều trị : mỡ corticoids bôi có hiệu lực nhưng cần chú ý bôi ở mặt có thể gây teo da, giãn mạch, ở vùng mặt và trẻ em chọn loại corticoid bôi ngoài da loại nhẹ.
- Chiếu UV
- Đầu có thể dùng loại Shampoos có lưu huỳnh và coaltar hoặc dung dịch cortioids.
- Shampoo ketoconazole 2% hoặc dạng cream (vì trong bệnh sinh người ta thấy có vai trò của Pityrosporum ovale)
- Nếp kẽ dùng dung dịch castellani.
5. Điều trị
5.1. Điều trị chung :
- Với eczema đang trong giai đoạn cấp tính cần nghỉ ngơi, hạn chế chất kích thích ( cà phê, rợu…)
- Tránh tiếp xúc với dị ứng nguyên nếu phát hiện được .
- Tránh cào gãi chà xát, tránh xà phòng.
- Nếu có nhiễm khuẩn rõ ( sốt, bạch cầu tăng cao, tồn thương sưng tấy đau, nồi hạch, có mủ vẩy tiết) cho dùng kháng sinh uống 1 đợt 7 – 10 ngày (Tetracyclin,erythromycin)
- Cho thuốc giải cảm, chống ngứa, chống dị ứng: kháng histamin tổng hợp ,corticoids.
Eczema đang vượng lan rộng, có ban dị ứng thứ phát có thể chỉ định corticoids uống một đợt nếu không có chống chỉ định
5.2. Điều trị tại chỗ
- Đối với eczema cấp tính chảy nước, loét trợt, dùng các thuốc dịu da, sát khuẩn, chống ngứa, ráo nước như đắp gạc dung dịch thuốc tím pha loãng 1/ 4000, nước muối sinh lý 9 %o, Nitrat bạc 0,25 %, Rivanol 1 %o, dung dịch Yarish trong 5- 7 ngày đầu sau đó bôi thuốc màu dung dịch tím Metin 1 % , dung dịch Milian, kết hợp hồ nước.
- Khi tổn thương khô cho bôi tiếp dầu kẽm cream, mỡ corticoid + kháng sinh ( cream Synalar- neomycin, cream celestoderm -neomycin….)
- Với eczema mạn tính có thể dùng Goudron, coaltar, mỡ corticoids hoặc mỡ corticoid+ a.salicylic như mỡ diprosalic.
Nguồn: Bệnh viện 103
Nhiều loại dầu khác nhau, trong đó có cả dầu ô liu, đã được chứng minh là có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa và thúc đẩy quá trình phục hồi tổn thương da, nhờ đó giúp điều trị viêm da cơ địa.
Tinh dầu tràm trà chứa các thành phần có đặc tính chữa lành nên có thể giúp làm giảm các triệu chứng và mức độ nghiêm trọng của các đợt bùng phát viêm da cơ địa.
Mặc dù không thể chữa trị dứt điểm nhưng dầu dừa có thể làm giảm các triệu chứng của bệnh viêm da cơ địa một cách hiệu quả bằng cách làm dịu da, giảm kích ứng và giảm nguy cơ nhiễm trùng.
Có nhiều biện pháp tự nhiên để tăng cường độ ẩm và bảo vệ hàng rào tự nhiên của da, nhờ đó làm giảm các triệu chứng viêm da cơ địa.
Viêm da cơ địa là một trong những bệnh về da phổ biến nhất ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Một phương pháp điều trị viêm da cơ địa phổ biến là dùng thuốc bôi và kem dưỡng ẩm để làm dịu da và giảm các triệu chứng. Ngoài ra, các phương pháp tự nhiên như dầu dừa cũng đã được chứng minh là có thể giúp điều trị viêm da cơ địa.





