Ung thư phổi: Những biểu hiện và phương pháp điều trị ngoại khoa - Bệnh viện Phổi trung ương
Tỷ lệ mắc bệnh
- Tần số mắc bệnh ung thư phổi tăng theo lứa tuổi và tăng một cách đều đặn ở các nước công nghiệp hóa và các nước đang phát triển.
- Phần lớn các bệnh nhân đều được chẩn đoán ở lứa tuổi giữa 35 - 75, với đỉnh cao ở lứa tuổi 55 - 65.
- Hơn 80% số ca ung thư phổi ở nam giới là có liên quan đến hút thuốc lá.
- Tỉ lệ mắc bệnh và tử vong do ung thư phổi ở phụ nữ tăng lên nhanh hơn ở nam giới và ngày nay đã trở thành nguyên nhân gây tử vong chính trong ung thư ở nữ giới.
Nguyên nhân mắc bệnh
- Hút thuốc lá là nguyên nhân của trên 80% ung thư biểu mô phế quản phổi dạng biểu bì hoặc tế bào nhỏ.
- Sự kết hợp giữa khói thuốc lá và bụi thạch anh là những tác nhân gây ung thư mạnh.
- Ngoài thạch anh còn nhiều tác nhân có thể gây ung thư khác như: crôm, nicken, asenic, ô nhiễm không khí và hơi radon.
Biểu hiện lâm sàng
Bệnh cảnh lâm sàng của những bệnh nhân với khối u carcinoma của phổi có bệnh cảnh lâm sàng rất thay đổi từ không có triệu chứng đến có các triệu chứng xuất hiện rất rầm rộ.
Triệu chứng của bệnh phụ thuộc vào một số yếu tố sau:
- Vị trí cơ thể học của khối u
- Mức độ lan rộng của khối u vào các tổ chức xung quanh
- Sự hiện diện của các di căn
- Tác động trên cơ thể của hội chứng hoóc-môn gây ra bởi khối u.
Trong những giai đoạn sớm, những khối u có thể phát hiện trên phim X- quang 5 năm trước khi nó có các triệu chứng lâm sàng.
Các triệu chứng hay gặp:
- Ho, ho ra máu
- Chán ăn
- Sụt cân
- Tổn thương thấy được trên phim X-quang phổi
Triệu chứng ho:
- Nhiều khi là triệu chứng lâm sàng đơn độc xảy ra trên 75% các trường hợp. Phần lớn các tổn thương gây ra ho đều nằm ở các phế quản lớn, chính sự kích thích và xuất tiết đã gây ra ho.
- Ho thường kết hợp với khác ra đàm, mức độ khạc đàm tùy thuộc vào mức độ bội nhiễm trên khối u.
- Ho ra máu: triệu chứng báo động đáng lo ngại nhất ở hầu hết các bệnh nhân và là triệu chứng bắt buộc bệnh nhân phải đi khám bệnh. Trong những báo cáo thì tỉ lệ ho ra máu trong ung thư phổi dao động từ 6 - 52% các trường hợp.
Có một số trường hợp ho ra máu nặng và phải can thiệp phẫu thuật cấp cứu.
Đau ngực: gần 1/2 số bệnh nhân bị ung thư phổi đều than đau ngực với bác sĩ ngay từ lần khám đầu tiên. Triệu chứng này thường được mô tả dưới cảm giác đau nặng nề. Nếu đau ngực nhiều và liên tục là triệu chứng báo hiệu một dự hậu rất xấu cho bệnh nhân bởi vì đó là dấu hiệu trực tiếp của hiện tượng xâm lấn vào xương và dây thần kinh liên sườn của khối u. Dấu hiệu đau của vai có thể là triệu chứng của khối u phổi dạng Pancoasts.
Khó thở: bệnh nhân thường thở nhanh và ngắn, một vài trường hợp có hiện tượng khò khè khi khối u lớn làm tắc nghẽn khí quản.
Tràn dịch màng phổi: có thể xảy ra, tràn dịch màng phổi tái phát nhanh sau khi chọc hút là dấu hiệu xấu biểu hiện cho tình trạng di căn của màng phổi. Dịch màng phổi có màu là dấu hiệu nghi ngờ di căn trực tiếp của khối u vào màng phổi.
Ngón tay hình dùi trống: ngón tay hình dùi trống hay xảy ra ở những bệnh nhân bị u phổi loại carcinoma tế bào gai. Dấu hiệu ngón tay dùi trống có thể mất đi nhanh chóng sau khi cắt bỏ khối u. Triệu chứng phì đại xương khớp có thể gặp ở 4 - 12% các bệnh nhân.
Khàn tiếng: chiếm tỉ lệ từ 1 - 8% số bệnh nhân bị ung thư phổi và thường là kết quả của hiện tượng xâm lấn trực tiếp vào dây thần kinh quặt ngược của khối u. Di căn các hạch bạch huyết vùng cổ xảy ra từ 15 - 20% số bệnh nhân và nếu sờ thấy khối u trên cơ scalene thì chắc chắn đến 85% các trường hợp là có khối u.
Triệu chứng khó nuốt xảy ra từ 1 - 5% số bệnh nhân và là dấu hiệu chỉ ra rằng khối u đã xâm lấn trực tiếp vào thực quản. Triệu chứng gan to xảy ra khi có di căn gan, khoảng 35% bệnh nhân chết vì di căn gan và 25% vì di căn xương. Hiếm gặp hơn là tình trạng tràn khí màng phổi khi khối u ăn làn ra ngoài màng phổi tạng.
Những triệu chứng gây ra do hoóc-môn:
- Cường chức năng của tuyến thượng thận
- Tăng canxi máu
- Hội chứng carcinoid.
Biểu hiện thường gặp nhất của những rối loạn nội tiết trong ung thư phổi là hội chứng Cushing (gây ra bởi cường vỏ thượng thận) thường gặp trong tổn thương ung thư dạng tế bào lúa mạch.
Bệnh cảnh rối loạn thần kinh cơ:
- Loại có nguồn gốc từ cơ: viêm đa cơ
- Loại có nguồn gốc thần kinh: mất cảm giác và vận động tự chủ.
Mặc dù phần lớn các bệnh nhân ung thư phổi đều không có triệu chứng, khi thăm khám kỹ có thể nghe thấy tiếng rít tại vị trí của khối u. Triệu chứng hay gặp nhất là hội chứng 3 giảm:
- Giảm rì rào phế nang bên bị tổn thương
- Gõ đục
- Rung thanh giảm khi bị tràn dịch màng phổi.
Nếu khám cẩn thận vùng thượng đòn, cổ và nách có thể thấy các hạch di căn. Những dấu hiệu thường gặp khác là: sụt cân, gan to trong trường hợp di căn và đau khớp.
Những khối u có thể phát hiện trên phim X- quang 5 năm trước khi nó có các triệu chứng lâm sàng
Nguồn: Bệnh viện Phổi trung ương
Thuyên tắc phổi (PE) thường được điều trị bằng cách sử dụng thuốc hoặc phẫu thuật, tùy thuộc vào kích thước của cục máu đông, biến chứng có thể xảy ra và nguy cơ hình thành cục máu đông mới trong tương lai.
Chụp cắt lớp vi tính (Chụp CT) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến nếu bác sĩ nghi ngờ bạn bị thuyên tắc phổi (PE).
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng cục máu đông hình thành trong phổi do nhiều nguyên nhân. Phần lớn các trường hợp bị thuyên tắc phổi xuất phát từ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), tình trạng cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu của cơ thể.
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.
Thời gian phục hồi sau thuyên tắc phổi có thể khác nhau tùy từng người. Nhiều người có thể hồi phục hoàn toàn và hoạt động bình thường trở lại sau vài tuần hoặc vài tháng.





