U dây thần kinh số V - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Ca bệnh
Bệnh nhân (nữ, 20 tuổi) có biểu hiện đau đầu, tê nửa mặt nhiều tháng mới đi khám tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội.
Sau khi thăm khám lâm sàng, bác sĩ chuyên khoa Ngoại Thần kinh - Cột sống chỉ định cho bệnh nhân đi chiếu chụp, kết quả trên phim cộng hưởng từ thấy hình ảnh một khối u dây V, có chỉ định phẫu thuật.
Bệnh nhân được phẫu thuật cắt toàn bộ khối u, bảo tồn các chức năng thần kinh. Sau phẫu thuật 5 ngày, tình trạng bệnh nhân ổn định và được ra viện.
Sau mổ 6 tháng, bệnh nhân đến khám lại đã hết triệu chứng đau đầu và tê nửa mặt, phim chụp sau mổ không còn u.
Triệu chứng
- Đau đầu, giảm cảm giác nửa mặt;
- Đau nửa mặt, yếu và tê nửa mặt liên quan đến chi phối của các nhánh dây thần kinh số V và yếu động tác nhai;
- Khối u ở hố Meckel có thể chèn ép các dây thần kinh khác, gây nhìn đôi, thường hiếm và phát hiện khi khối u đã to;
- Các khối u ở vị trí góc cầu có thể chèn ép thân não gây đi lại loạng choạng;
- U có thể chèn ép gây giãn não thất.
Chẩn đoán
Dưạ vào các biểu hiện lâm sàng được liệt kê phía trên (có thể không đầy đủ ở từng người bệnh) kết hợp với:
Chụp cắt lớp vi tính:
- Hình ảnh điển hình của u dây V là khối ngoài trục, đôi khi nó nang, ở vùng đỉnh xương đá thường đồng tỉ trọng sau tiêm thuốc cản quang, tiêu xương ở hố sọ giữa, tiêu xương ở phần trước giữa của xương đá.
- Những dấu hiện tiêu xương ít phổ biến hơn liên quan đến khe ổ mắt trên, ống thị giác, mỏm yên và thành bên của xoang hang.
- Hạn chế: nhiễu ảnh có thể làm khó khăn cho chẩn đoán. Hơn thế nữa, sự liên quan giữa hạch Gassereian và khối u thường không rõ ràng.
Chụp mạch trong u dây V
- Có thể thấy đè đẩy động mạch cảnh trong do một khối ngoài trục và khối u bắt thuốc bất thường.
- Khối u dây V bắt thuốc ít hơn so với u màng não.
Cộng hưởng từ:
- Là phương pháp tốt cho chẩn đoán u dây V trước phẫu thuật do cắt được trên nhiều mặt phẳng.
- Điển hình là khối u có hình đồng hồ cát (dumbell). Sự liên quan của một hoặc nhiều nhánh u dây V (cả trong sọ và ngoài sọ) có thể xác định. Khối u tăng tín hiệu trên T2 và giảm tín hiệu trên T1, xong có thể không đặc hiệu.
Điều trị
Phẫu thuật
- Là biện pháp điều trị chính để chẩn đoán mô bệnh học, giải ép và cắt bỏ toàn bộ khối u.
- Cắt bỏ toàn bộ khối u khi có thể là mục tiêu chính, giúp bảo tồn các cấu trúc mạch máu và thần kinh quan trọng, giúp tăng thời gian sống cho bệnh nhân.
- Trong khi đó, cắt không toàn bộ khối u có thể tái phát.
Xạ trị
- Xạ trị là biện pháp dành cho những khối u không thể lấy hết được sau phẫu thuật hoặc trong những trường hợp không thể phẫu thuật.
- Bệnh nhân với những khối u nhỏ hoặc trung bình, không có tổn thương chức năng thần kinh có chỉ định tốt với xạ trị.
- Xạ trị cũng là lựa chọn tốt với những bệnh nhân có tổn thương chức năng dây thần kinh do có tỉ lệ hồi phục cao sau xạ trị.
- Xạ trị không phải là lựa chọn cho những khối u lớn (>= 10ml) gây hiệu ứng khối trên thân não, khối u chèn ép não thất IV, khối u gây phù thân não.
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Stress có ảnh hưởng đến cảm xúc và tinh thần. Ví dụ, cảm giác cáu kỉnh, luôn trong trạng thái lo lắng, bất an hoặc những thay đổi tâm trạng bất thường khác có thể là dấu hiệu cho thấy bạn đang bị stress.
Bệnh lý thần kinh do rượu sẽ ngày càng nghiêm trọng, gây tổn thương vĩnh viễn ở hệ thần kinh và các bộ phận khác của cơ thể nếu người bệnh tiếp tục uống rượu. Điều này có thể dẫn đến khuyết tật, đau đớn mạn tính và thậm chí là tử vong.
Nghiên cứu cho thấy căng thẳng có thể là yếu tố khiến cho bệnh zona thần kinh (hay còn gọi là bệnh giời leo) tái phát.
Bệnh Parkinson là một bệnh do thoái hóa hệ thần kinh trung ương. Theo ước tính, đến nay có trên 10 triệu người trên toàn thế giới mắc bệnh Parkinson. Những người bị bệnh này gặp phải các triệu chứng chính là run chân tay, co thắt và đau cơ, dẫn đến đi lại vận động khó khăn. Một số người mắc bệnh Parkinson còn bị sa sút trí tuệ hay lú lẫn, đặc biệt là khi tình trạng bệnh tiến triển nặng.
Bệnh Parkinson là một dạng rối loạn thần kinh do thoái hóa, có các triệu chứng điển hình là run chân tay, mất khả năng kiểm soát vận động của cơ, dẫn đến khó khăn khi cử động, đi lại, nói chuyện… Bệnh còn gây ra nhiều triệu chứng khác và khi bệnh tiến triển sang các giai đoạn sau thì các triệu chứng càng nặng.





