Tính không đặc hiệu của đáp ứng miễn dịch thể dịch
1. Đáp ứng không đặc hiệu
Mối quan hệ thực sự của những kháng thể này với kháng nguyên có thể yếu hay mạnh và hiệu giá của nhiều kháng thể thường là thấp. Tuy nhiên, có thể hiểu rằng một số sự kiện, có lẽ hiện tượng viêm và kết hợp với hoạt hóa cytokine hay kích thích trực tiếp tế bào B, có thể có khả năng kích thích đáp ứng kháng thể với kháng nguyên của vi khuẩn thậm chí vi khuẩn không gây nhiễm khuẩn hiện tại. Hơn nữa, có khả năng một vi khuẩn kích thích đáp ứng không đặc hiệu theo cách hoạt hóa đa dòng (27). Nhiều trường hợp được ghi nhận bởi Biberfeld về nhiễm khuẩn do Mycoplasma pneumoniae (28).
Sự phát triển của những tự kháng thể khác nhau hoặc ít ra là gia tăng trong giai đoạn nhiễm khuẩn là ví dụ tốt bằng cách nào mà đáp ứng kháng thể có từ trước có thể kích thích không đặc hiệu (29). Chẳng hạn, sự tạo ra yếu tố thấp (một IgM kháng IgG) là không có gì lạ khi bị nhiễm M. pneumoniae (30). Những người này tạo ra nhiều đáp ứng, hiệu giá sẽ tăng cao trong vòng 2-4 tuần trong giai đoạn bệnh cấp và giảm xuống trong những tháng kế tiếp. Do đó, có khả năng là đáp ứng không đặc hiệu sẽ xuất hiện và mất đi cùng lúc với đáp ứng đặc hiệu với vi khuẩn.
2. Đáp ứng dị kháng thể (Heterophil antibody)
Kháng thể dị kháng thể xuất hiện trong giai đoạn xảy ra nhiễm khuẩn, phản ứng với những kháng nguyên không phải là tác nhân nhiễm khuẩn ban đầu. Dị kháng thể có thể nhắm vào mô ký chủ hay với vi khuẩn khác. Cơ chế để dị kháng thể phát triển có thể do kích thích đa dòng không đặc hiệu. Tuy nhiên, có khả năng là nhiễm khuẩn tự nó chịu trách nhiệm sâu sắc cho biểu hiện của kháng nguyên. Vi khuẩn có thể có một số kháng nguyên gắn với một thụ thể, có lẽ sự thay đổi dạng thụ thể đó làm nó hấp dẫn hơn với đáp ứng miễn dịch (31). Cũng có thể là đáp ứng miễn dịch tác động nguyên phát (primarily) tới vi khuẩn gắn vào nhưng thứ phát (secondarily) tấn công thụ thể của ký chủ. Hơn nữa, có khả năng vi khuẩn hay ký chủ chịu trách nhiệm cho những biến đổi kháng nguyên như là hậu quả của nhiễm khuẩn, ví dụ cơ chế tiêu protein hay cơ chế khác.
Ngưng kết tố lạnh tạo ra trong nhiễm M. pneumoniae là ví dụ tốt cho dị kháng thể tạo ra trong quá trình nhiễm vi khuẩn (32). Chúng là những kháng thể IgM trực tiếp với kháng nguyên I của một số tế bào chân hạt (eukaryotic cells) và nó được tin rằng giống kháng nguyên I của đường hô hấp phục vụ cho những thụ thể chính của M. pneumoniae gắn vào. Dù ngưng kết tố lạnh không được sử dụng nhiều trong chẩn đoán mycoplasma hiện nay, tuy nhiên thí dụ này được khai thác cho nhiều mục đích trong quá khứ cho một số bệnh nhân (see Chapter 29). Đáp ứng dị kháng thể khác thấy trong bệnh giang mai đang hoạt động và dựa vào thử nghiệm non-treponemal được biết là VDRL và RPR (33; chương 26). Kháng nguyên trong thử nghiệm này là lipoidal và nó được tạo từ cardiolipin, cholesterol và lecithin. Vẫn còn một số điều chưa biết về vai trò của mỗi kháng nguyên eukaryotic hoặc lipoproteins của vi khuẩn có trong thuốc thử này nhưng còn nhiều đáp ứng miễn dịch có nhiều ích lợi cho mục đích chẩn đoán và rất được ưa chuộng sử dụng như là dấu ấn của nhiễm khuẩn đang hoạt động.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Thèm nhai đá có thể là do nhiều nguyên nhân nhưng hai nguyên nhân phổ biến nhất là thiếu máu do thiếu sắt và hội chứng pica.
Y học tái tạo đang thu hút sự chú ý trong cộng đồng Y khoa Quốc tế với việc nghiên cứu về khả năng tự chữa lành và tái tạo của cơ thể con người. Một phương pháp tiên tiến là sử dụng chất tiết tế bào gốc Exosomes, giúp hỗ trợ quá trình lành và tái tạo cơ thể.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Có nhiều cách kiểm soát chứng đau nửa đầu, từ dùng thuốc cho đến các biện pháp điều trị tự nhiên. Nghiên cứu gần đây cho thấy hoa oải hương có thể làm giảm chứng đau nửa đầu. Hoa oải hương có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trị đau nửa đầu. Một trong số đó là sử dụng tinh dầu oải hương. Cùng tìm hiểu xem liệu điều trị đau nửa đầu bằng tinh dầu oải hương có hiệu quả hay không và cách sử dụng ra sao.
Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn tiêu hoá gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón. Nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng này vẫn chưa được xác định nhưng các tác nhân kích hoạt triệu chứng gồm có mốt số loại thực phẩm, đồ uống và stress.





