Tìm hiểu về xét nghiệm kháng nguyên HLA B27
1. Kháng nguyên HLA B27 là gì?
HLA là một hệ kháng nguyên chủ yếu có trên bạch cầu, tiểu cầu. Kháng nguyên HLA - B27 là kháng nguyên bề mặt MHC lớp I được mã hoá bởi các locus B trên nhiễm sắc thể số 6.
2. Khi nào cần xét nghiệm kháng nguyên HLA B27?
Theo một số nghiên cứu, đa số người mắc bệnh viêm cột sống dính khớp có biểu hiện HLA – B27 dương tính. Do vậy xét nghiệm kháng nguyên HLA – B27 là xét nghiệm có giá trị trong chẩn đoán bệnh:
- Viêm cột sống dính khớp (Ankylosing spondylitis);
- Viêm khớp phản ứng (hội chứng Reiter);
- Viêm khớp dạng thấp thiếu niên (JRA);
- Viêm màng bồ đào;
- Bệnh vảy nến.
- Sưng, đau, cứng khớp, hạn chế vận động đối với các khớp cột sống thắt lưng, cột sống cổ...
- Viêm kết mạc mắt, viêm niệu đạo, tổn thương da và bệnh viêm ruột.
- Gia đình có tiền sử viêm cột sống dính khớp.
3. Ý nghĩa xét nghiệm kháng nguyên HLA-B27
Xét nghiệm kháng nguyên HLA-B27 phát hiện gen quy định kháng nguyên HLA-B27 trên nhiễm sắc thể số 6 của người ở các bệnh nhân có nguy cơ viêm cột sống dính khớp.
Tỉ lệ kháng nguyên HLA-B27 ở người bình thường có sự chênh lệch rất khác nhau giữa các chủng tộc. Bệnh gặp nhiều ở người trẻ (khoảng 90% dưới 30 tuổi), gặp ở nam nhiều hơn ở nữ. Bệnh có tính chất gia đình rõ, có thể di truyền đến các thế hệ con cháu của những người có HLA- B27 dương tính, đặc biệt họ hàng của những người bị viêm cột sống dính khớp mà có HLA-B27 dương tính thì nguy cơ bị viêm cột sống dính khớp cao hơn 40 lần so với người bình thường.
Bên cạnh đó, xét nghiệm kháng nguyên HLA-B27 còn giúp đánh giá tổn thương của bệnh viêm cột sống dính khớp như lúc đầu là xơ teo, sau đó canxi hóa dây chằng, bao khớp kèm theo viêm nội mạc và mao mạch. Biểu hiện lâm sàng là đau hạn chế vận động cột sống, có thể kèm theo viêm các khớp chi dưới, thường nhanh chóng để lại di chứng dính khớp và đốt sống.
Tổn thương dây chằng chéo trước là thương tổn thường gặp nhất trong nhóm chấn thương khớp gối. Hàng năm, tại Mỹ khoảng 200.000 bị tổn thương dây chằng chéo trước và hơn nửa số đó phải điều trị bằng phấu thuật.
Xương quai xanh có tác dụng rất quan trọng, là nơi treo xương cánh tay vào thân. Gãy xương quai xanh là một chấn thương thường gặp ở vùng vai, trong trường hợp ngã hoặc chấn thương do tai nạn giao thông.
Hội thấp khớp học Hoa Kỳ (American College of Rheumatology, ARC) đã đưa ra một số tiêu chuẩn để chẩn đoán chính xác thoái hóa khớp gối. Những biểu hiện của thoái hóa khớp gối bao gồm: xuất hiện gai xương dưới sụn, mất dần sụn khớp, xơ hóa xương dưới sụn, cử động khớp đau, có tiếng lục khục, lệch trục khớp...
X-quang có vai trò quan trọng trong chẩn đoán các bệnh lý khớp gối. Nó là một trong những xét nghiệm nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh và dùng phân biệt giữa các bệnh lý khớp gối khác nhau.
Xương đùi là phần xương chắc khỏe nhất trong cơ thể vì thế phải có lực tác động rất mạnh mới có thể làm gãy thân xương đùi. Xương đùi cũng là xương dài nhất, mỗi vị trí gãy sẽ có đặc điểm và biện pháp xử trí khác nhau.
Yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF) là một loại kháng thể tấn công các mô khỏe mạnh trong cơ thể. Những kháng thể này được gọi là tự kháng thể.
Đứt gân Achilles là một dạng chấn thương ở phía sau của cẳng chân. Đứt gân Achilles chủ yếu xảy ra ở những người chơi thể thao nhưng có thể xảy ra với bất kỳ ai.
Bong gân là hiện tượng dây chằng bị giãn hoặc rách. Dây chẳng là những dải mô chắc nối hai xương trong khớp với nhau. Vị trí bong gân phổ biến nhất trên cơ thể là mắt cá chân. Bong gân mắt cá chân còn được gọi là trật mắt cá chân.
Bên cạnh thuốc đường uống, một giải pháp khác để điều trị loãng xương là truyền thuốc qua đường tĩnh mạch. Thuốc thường được truyền mỗi 3 hoặc 12 tháng một lần. Tác dụng phụ thường nhẹ và đa phần chỉ xảy ra sau lần truyền thuốc đầu tiên.
Vỡ xương sọ xảy ra khi có một lực tác động mạnh khiến xương sọ (hộp sọ) bị nứt, lún hoặc vỡ. Một số trường hợp vỡ xương sọ tự lành mà không cần can thiệp điều trị nhưng nếu tổn thương đến não hoặc cần phẫu thuật thì quá trình hồi phục có thể mất vài tuần cho đến vài tháng.





