Tìm hiểu về chỉ số ước lượng glucose máu trung bình (eAG)
1. Các khái niệm liên quan tới chỉ số eAG
1.1 Xét nghiệm HbA1c và mối liên quan với chỉ số eAG
Xét nghiệm HbA1c còn được gọi là HbA1c, Hemoglobin A1c, Glycated hemoglobin, Glycohemoglobin, Glycosylated hemoglobin. Tên chính thức là A1c và eAG.
Xét nghiệm HbA1c là một xét nghiệm máu, được dùng để đo lượng đường trung bình máu trong khoảng 2 - 3 tháng bằng cách đo nồng độ glycated hemoglobin A1c. Đây là xét nghiệm được chỉ định thực hiện để xem mức độ ổn định của lượng đường trong máu ở bệnh nhân tiểu đường. Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong chẩn đoán ban đầu bệnh tiểu đường tuýp 2 (không sử dụng trong chẩn đoán tiểu đường tuýp 1).
Hiện nay, kết quả thu được từ xét nghiệm HbA1c được tính theo đơn vị %, mmol/mol hoặc mg/dl hay mmol/l (ước lượng glucose máu trung bình - eAG).
1.2 eAG là gì?
eAG là viết tắt của cụm từ estimated Average Glucose, có nghĩa là ước lượng glucose máu trung bình. Như vậy, eAG là một đơn vị đánh giá chỉ số xét nghiệm HbA1c.
Xét nghiệm này nhằm mục đích theo dõi, kiểm soát tình trạng đái tháo đường của người bệnh, giúp đưa ra quyết định điều trị chính xác. Thời điểm thực hiện xét nghiệm là khi được chẩn đoán đái tháo đường lần đầu tiên và sau đó thực hiện 2 - 4 lần/năm. Mẫu máu xét nghiệm được lấy ở tĩnh mạch tay hoặc chích lấy 1 giọt máu ở đầu ngón tay.
2. Tìm hiểu về chỉ số eAG
2.1 Chỉ số eAG được sử dụng trong trường hợp nào?
- Xét nghiệm HbA1c và tính toán mức độ eAG được sử dụng chủ yếu nhằm theo dõi lượng glucose của bệnh nhân đái tháo đường theo thời gian. Mục tiêu của người bệnh là giữ lượng đường máu càng gần mức bình thường càng tốt, giảm thiểu các biến chứng do tăng đường máu như tổn thương các cơ quan thận, mắt, hệ thần kinh và tim mạch;
- Xét nghiệm HbA1c và kết quả eAG giúp bác sĩ đánh giá được lượng đường glucose trung bình trong máu trong vài tháng gần nhất. Kết quả này giúp bác sĩ đánh giá xem các biện pháp đang điều trị có thực sự hiệu quả không;
- Xét nghiệm A1c và chỉ số eAG giúp những bệnh nhân mới được chẩn đoán tiểu đường xác định xem lượng đường tăng cao tới mức độ nào khi chưa thực hiện các biện pháp điều trị, kiểm soát.
Xét nghiệm HbA1c có thể chỉ định thực hiện vài lần trước khi kiểm soát đường huyết. Sau đó, mỗi năm thực hiện 2 - 4 lần để kiểm tra mức độ ổn định của đường huyết.
2.2 Ý nghĩa kết quả eAG
- Kết quả xét nghiệm HbA1c hiện đang được tính bằng tỷ lệ phần trăm và bệnh nhân tiểu đường được khuyến nghị nên duy trì mức độ HbA1c là dưới 7%;
- Kết quả xét nghiệm HbA1c có thể được trả kèm với chỉ số ước lượng glucose máu trung bình (eAG) - tính toán trên cơ sở mức độ A1c;
- Kết quả eAG được báo cáo thêm để giúp bệnh nhân liên hệ giữa kết quả A1c với việc kiểm soát glucose máu hằng ngày;
- Công thức tính chỉ số eAG sẽ chuyển đổi tỷ lệ % của xét nghiệm HbA1c sang các đơn vị mmol/L hoặc mg/dL;
- eAG chỉ là phương tiện để đánh giá lượng đường trung bình trong máu trong vài tháng gần nhất. Do vậy, kết quả này sẽ không khớp chính xác với kết quả đường huyết đo hằng ngày;
- Người không bị tiểu đường có giá trị HbA1c ở khoảng 4 - 6%;
- Bệnh nhân tiểu đường nên cố gắng duy trì chỉ số HbA1c ở mức độ 6%, không để xảy ra các đợt hạ đường huyết để kiểm soát bệnh tốt. Khi kết quả HbA1c và eAG tăng thì sẽ tăng nguy cơ biến chứng như mất thị lực, đột quỵ, bệnh tim mạch, bệnh thận,...
2.3 Cách tính chỉ số ước lượng glucose máu trung bình (eAG)
Công thức tính eAG từ kết quả HbA1c là:
28.7 x A1c - 46.7 = eAG
Ví dụ: A1c = 7% thì kết quả eAG là:
28.7 x 7 - 46.7 = 154 mg/dl
Như vậy, ước lượng glucose máu trung bình (eAG) là 154 mg/dL. Khi A1c tăng 1% thì glucose máu trung bình tăng khoảng 29 mg/dl.
Chỉ số ước lượng glucose máu trung bình (eAG) là một hình thức khác để báo cáo kết quả xét nghiệm HbA1c (thay đơn vị % bằng đơn vị mg/dl hoặc mmol/l). Chỉ số này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện, theo dõi và ngăn ngừa biến chứng bệnh tiểu đường.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 885 lượt xem
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.
Nếu bạn đang phải khổ sở vì những đêm trằn trọc mất ngủ thì việc ngủ được ngay chỉ sau vài phút nằm xuống giường quả là một niềm mơ ước. Tuy nhiên, thật sự có những cách giúp bạn có thể chìm vào giấc ngủ chỉ sau 120, 60 hoặc thậm chí là 10 giây.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.





