Tai biến thường gặp khi truyền máu và cách xử trí
1. Các tai biến truyền máu thường gặp
Tai biến truyền máu được phân loại thành các dạng khác nhau, do nguyên nhân gây ra tiêu biểu có các nhóm sau:
1.1 Các tai biến truyền máu do miễn dịch
Phản ứng tan máu cấp do truyền máu:
- Thường do truyền máu toàn phần hoặc không tương đồng hệ nhóm máu ABO, khiến kháng thể kháng A hoặc B có trong huyết tương bệnh nhân gây ngưng kết hồng cầu có kháng nguyên tương ứng truyền vào, dẫn tới tan máu nội mạch cấp tính.
- Bệnh nhân thường có biểu hiện sốt, rét run hoặc đau lưng (do thiếu máu và co cứng cơ), khó thở, suy hô hấp, vô niệu, hạ huyết áp và sốc, đái huyết sắc tố.
- Những biểu hiện lâm sàng này thường diễn ra theo 3 giai đoạn là: giai đoạn sốc, giai đoạn vô niệu và giai đoạn hồi phục.
Phản ứng tan máu muộn sau truyền máu:
- Nguyên nhân là do có hiện tượng miễn dịch thứ phát chống lại các đồng nguyên kháng hồng cầu được tạo ra khoảng 1-2 tuần sau khi người nhận máu tiếp xúc với kháng nguyên lạ.
- Bệnh nhân thường không có biểu hiện lâm sàng đặc hiệu cho tan máu, nếu có cơn tan máu nặng thì có thể có các biểu hiện như sốt rét run, vàng da, thiếu máu,...
Phản ứng sốt sau truyền máu không do tan máu:
- Nguyên nhân do không phù hợp nhóm bạch cầu và tiểu cầu giữa người cho và người nhận dẫn tới , tương tác giải phóng các chất gây sốt.
- Sốt có thể kèm rét run xảy ra trong hoặc sau khi truyền máu.
Các phản ứng dị ứng do truyền máu:
- Nổi mề đay (sẩn ngứa): do các dị nguyên trong huyết tương và các chế phẩm khác có chứa huyết tương dẫn tới giải phóng histamin, thường gặp ở người có tiền sử dị ứng.
- Phản ứng phản vệ: bệnh nhân có các biểu hiện như sốc phản vệ, khó thở, tụt huyết áp, co thắt phế quản, nôn, đau bụng, vã mồ hôi...
Phản ứng do đồng miễn dịch:
- Nguyên nhân do cơ thể bệnh nhân có phản ứng miễn dịch với các đồng kháng nguyên trong chế phẩm truyền vào, thường xảy ra sau khi truyền máu hoặc mang thai.
- Bệnh nhân thường có các biểu hiện tan máu cấp hoặc tan máu muộn sau truyền máu hoặc có tình trạng không đáp ứng với truyền máu.
- Ở trẻ sơ sinh, giảm tiểu cầu miễn dịch được biểu hiện bằng hội chứng xuất huyết đốm sau sinh, với các biểu hiện xuất huyết nặng như xuất huyết não- màng não, xuất huyết tiêu hóa.
1.2 Các tai biến truyền máu do nhiễm trùng
- Viêm gan do truyền máu:
- Hay gặp nhất là viêm gan do HCV.
- Bệnh nhân viêm gan thường không có hoặc ít biểu hiện vàng da, có thể có mệt mỏi, kém ăn, rối loạn tiêu hóa, đau khớp hoặc sốt nhẹ.
- Nhiễm HIV và HTLV-1: Nhờ có sàng lọc HIV thường quy nên nhiễm HIV sau truyền máu có tỷ lệ thấp.
- Nhiễm ký sinh trùng sốt rét, nhiễm khuẩn xoắn giang mai, máu nhiễm khuẩn cũng là những tác nhân có nguy cơ mắc phải sau truyền máu.
1.3 Tai biến do truyền máu khối lượng lớn
- Quá tải tuần hoàn: do khi truyền một lượng máu quá lớn với tốc độ nhanh gây quá tải tuần hoàn trên các bệnh nhân có bệnh tim hoặc phổi, gây suy tim phải, phù phổi cấp, xanh tím, khó thở,...
- Nhiễm độc citrat: do tác dụng phụ của citrat dùng để chống đông máu truyền vào, gây rối loạn chức năng tim do giảm calci máu.
- Tăng Kali máu: do kali chứa trong máu truyền vào sau quá trình bảo quản.
2. Xử trí tai biến truyền máu như thế nào?
Xử trí tai biến khi truyền máu tùy thuộc vào mức độ của tai biến mà có những biện pháp thích hợp.
2.1 Xử trí ban đầu
- Khóa ngay bộ dây truyền máu để ngăn lượng máu tai biến tiếp tục vào cơ thể người nhận.
- Đánh giá các dấu hiệu sinh tồn của người bệnh.
- Xác định hoặc loại trừ nguy cơ truyền máu không hòa hợp nhóm hồng cầu, thông qua: kiểm tra, đối chiếu hồ sơ người bệnh, định nhóm máu ABO.
- Xác định mức độ tai biến.
2.2 Đối với các phản ứng nhẹ
- Cần cho máu truyền chậm lại và dùng các thuốc chống dị ứng.
- Theo dõi sát tình trạng lâm sàng, nếu không cải thiện hoặc tiến triển xấu cần xử lý như các phản ứng trung bình.
2.3 Đối với các phản ứng trung bình
- Lập tức ngưng truyền máu.
- Duy trì đường truyền tĩnh mạch bằng dung dịch muối sinh lý NaCl 0,9%.
- Điều trị các triệu chứng phù hợp như ủ ấm khi rét run hoặc chống dị ứng, hạ sốt.
- Theo dõi màu sắc nước tiểu và lưu lượng.
2.4 Đối với các phản ứng nặng
- Ngoài ngưng truyền máu ngay cần duy trì đường truyền tĩnh mạch bằng nước muối sinh lý NaCl 0,9% để duy trì huyết áp.
- Duy trì hô hấp và hỗ trợ bằng oxy.
- Nếu bệnh nhân có dấu hiệu hen phế quản cần sử dụng corticoid tĩnh mạch và thuốc giãn phế quản.
- Sử dụng thuốc lợi tiểu đường tĩnh mạch với furosemid.
- Điều trị các rối loạn đông máu rải rác nội mạch.
- Dùng kháng sinh chống nhiễm khuẩn phổ rộng nếu có nhiễm trùng máu.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 952 lượt xem
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Y học tái tạo đang thu hút sự chú ý trong cộng đồng Y khoa Quốc tế với việc nghiên cứu về khả năng tự chữa lành và tái tạo của cơ thể con người. Một phương pháp tiên tiến là sử dụng chất tiết tế bào gốc Exosomes, giúp hỗ trợ quá trình lành và tái tạo cơ thể.





