1

Sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực - bệnh viện 103

1.Tóm tắt

1.1 Mục tiêu

Cắt nội soi lưỡng cực (Bipolar – TURP) là một phương pháp chưa được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam. Chúng tôi tiến hành đánh giá sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực ( Bipolar- TURP) điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) tại Bệnh viện 103.

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

  • Gồm các bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật cắt nội soi lưỡng cực từ 11/2012 đến 6/2013 tại Bệnh viện 103.
  • Các bệnh nhân được kiểm tra trọng lượng u, và đánh giá IPSS trước và sau mổ 1 tháng, 3 tháng theo dõi.

1.2.Kết quả

Có 64 bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật. Tuổi từ 55- 90 ( tuổi trung bình: 70,51).  Lứa tuổi gặp nhiều nhất là 60 – 69 ( chiếm 43, 75%);  tuổi từ  60 – 79 chiếm tỷ lệ 75,0%.

Thể tích tuyến tiền liệt trước mổ trung bình: 54, 30 ± 16, 44 cm3. Thể tích tuyến tiền liệt tối đa: 100cm3 và tối thiểu: 30cm3. Sự cải thiện IPSS thể hiện rõ tại thời điểm 1 tháng sau mổ. 

Có 1/48 bệnh nhân có điểm IPSS trước mổ > 21 (chiếm 2,08%).  IPSS trung bình trước mổ 28,47 (Sd= 4,23), sau mổ 1 tháng là 5,10 (Sd= 4,65). IPSS sau mổ được cải thiện rất rõ rệt. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

1.3.Kết luận

Sự cải thiện chỉ số IPSS diễn ra rất sớm, hiệu quả cao và đạt tối đa 3 tháng sau mổ. Trong đó sự cải thiện IPSS sau mổ 1 tháng là 82,09% và 3 tháng sau mổ là 88,83%.

2. Đặt vấn đề

Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt là bệnh có nhiều tên gọi như: Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt, U phì đại lành tính tuyến tiền liệt, U xơ tuyến tiền liệt… Bệnh hay gặp ở nam giới cao tuổi gây nên triệu chứng ở đường tiểu dưới, ảnh hưởng chất lượng sống của người bệnh.

Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh ở lứa tuổi 50 là 50%, tuổi 60 là 60%, 70 là 70%, và trên 80 tuổi là 100% . Có nhiều phương pháp điều trị bệnh:

  • Điều trị nội khoa
  • Điều trị bằng phương pháp ít sang chấn
  • Điều trị ngoại khoa.

Điều trị ngoại khoa bao gồm: phẫu thuật mở và các phương pháp nội soi. Trong các phương pháp nội soi, tại Việt Nam, phương pháp cắt nội soi lưỡng cực ( Bipolar – TURP)  chưa được áp dụng rộng rãi, chưa có nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị của phương pháp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực điều trị TSLTTTL tại Bệnh viện 103.

3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:

  • Gồm các bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật cắt nội soi lưỡng cực từ 11/2012 đến 6/2013 tại Bệnh viện 103.
  • Các bệnh nhân không có bí đái phải đặt thông tiểu hay Catheter bàng quang trên xương mu.

Tiêu chuẩn loại trừ:

  • Bệnh nhân đang đặt thông hay catheter bàng quang trên xương mu.
  • Kết quả giải phẫu bệnh lý sau mổ ác tính.
  • U tuyến tiền liệt kết hợp sỏi bàng quang.
  • Bệnh nhân có bệnh TSLTTTL tái phát sau cắt nội soi hoặc tiền sử mổ các bệnh lý ở bàng quang, tiền sử mổ tạo hình niệu đạo.
  • Bệnh nhân không đồng ý tham gia.

Nghiên cứu tiến cứu. Các bệnh nhân được kiểm tra trọng lượng u và đánh giá IPSS trước và sau mổ 1 tháng, 3 tháng theo dõi.

4. Kết quả

Có 64 bệnh nhân bị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt được phẫu thuật.

Tuổi thấp nhất: 55. Tuổi cao nhất: 90. Tuổi  trung bình: 70,51 ± 8,25.

Lứa tuổi gặp nhiều nhất là 60 – 69 (43,75%); tuổi từ  60 – 79 chiếm tỷ lệ 75,0 %.

Thể tích TTL trước mổ trung bình: 54, 30 ± 16, 44 cm3.

Thể tích tối đa:  100cm3 và tối thiểu: 30cm3

IPSS trung bình trước mổ 28,47 (Sd=4,23), sau mổ 1 tháng là 5,10 (Sd= 4,65). Sự thể hiện IPSS trước và sau mổ được cải thiện rất rõ rệt. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.

Sự cải thiện IPSS thể hiện rõ ràng tại thời điểm 1 tháng sau mổ.  Có 1/48 bệnh nhân có điểm IPSS > 21 (chiếm 2,08%).

Có mối liên quan rất chặt chẽ giữa chỉ số IPSS trước mổ với chỉ số IPSS sau mổ với hệ số tương quan r =- 0,25 , P < 0,05.

5. Bàn luận

Trong thực hành lâm sàng, lứa tuổi cần được quan tâm đối với chỉ định cắt nội soi lưỡng cực, là các bệnh nhân trên 80 tuổi và các bệnh nhân dưới 60 tuổi. Tuổi cao không phải là chống chỉ định trong cắt nội soi lưỡng cực bệnh TSLTTTL.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ bệnh nhân tuổi >= 80 tuổi được cắt nội soi lưỡng cực bệnh TSLTTTL 15,62% ( 10 bệnh nhân). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự cải thiện chỉ số IPSS của nhóm bệnh nhân > 80 tuổi và các bệnh nhân của nhóm còn lại (P> 0,05).

Cắt nội soi lưỡng cực là một phẫu thuật thường được chỉ định cho các bệnh nhân bệnh TSLTTTL có khối lượng <50 g. Chúng tôi chủ trương tôn trọng giới hạn 50- 60 g trong việc lựa chọn bệnh nhân để cắt nội soi lưỡng cực. Tuy vậy trong nghiên cứu vẫn có 21 bệnh nhân (35%) có khối lượng TTL> 60 g.

Bảng 5 chỉ ra rằng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ cải thiện chỉ số IPSS trong nhóm bệnh nhân có khối lượng TTL <=50g và trong nhóm bệnh nhân có khối lượng TTL > 50g , với P > 0,056.

Bảng 3 cho thấy sự cải thiện chỉ số IPSS sau mổ là rất rõ và rất sớm. Chỉ số IPSS trung bình trước mổ là 28,47 điểm ( Sd = 4,23). IPSS trung bình sau mổ 1 tháng là 5,10 điểm ( Sd= 4, 65) và sau mổ 3 tháng là 3,18 ( Sd= 1,46). Sự khác biệt này với P < 0,001.

Bảng 4 cho thấy không có bệnh nhân nào trước mổ có chỉ số IPSS <10. Điều này chứng tỏ mức độ phiền nhiễu gây ra cho người bệnh là rất đáng kể. Sau mổ 1 tháng có 1 bệnh nhân có chỉ số IPSS > 20 điểm ( 2,08%) và vẫn còn 2 bệnh nhân ( 4,17%) có chỉ số IPSS từ 10- 20 điểm.

6. Kết luận

Qua nghiên cứu đánh giá sự thay đổi chỉ số IPSS sau cắt nội soi lưỡng cực ( Bipolar- TURP) điều trị tăng sản lành tính tuyến tiền liệt (TSLTTTL) tại Bệnh viện 103, trong thời gian từ 11/2012 đến 7/2013, chúng tôi rút ra kết luận như sau: Sự cải thiện chỉ số IPSS diễn ra rất sớm, hiệu quả cao và đạt tối đa sau 3 tháng sau mổ. Trong đó sự cải thiện IPSS ngay sau mổ là 82,09% và tại thời điểm 3 tháng sau mổ là 88,83%.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Video có thể bạn quan tâm
CÔNG NGHỆ CAO "3 TRONG 1" - XỬ LÝ SỎI NIỆU ĐẠO, SỎI NIỆU QUẢN, XƠ HẸP NIỆU QUẢN CHỈ TRONG 1 LẦN ĐIỀU TRỊ CÔNG NGHỆ CAO "3 TRONG 1" - XỬ LÝ SỎI NIỆU ĐẠO, SỎI NIỆU QUẢN, XƠ HẸP NIỆU QUẢN CHỈ TRONG 1 LẦN ĐIỀU TRỊ 05:53
CÔNG NGHỆ CAO "3 TRONG 1" - XỬ LÝ SỎI NIỆU ĐẠO, SỎI NIỆU QUẢN, XƠ HẸP NIỆU QUẢN CHỈ TRONG 1 LẦN ĐIỀU TRỊ
Đối với một người mắc sỏi đa vị trí kèm xơ hẹp niệu quản (nhiều polyp) thì việc điều trị được cho là vô cùng phức tạp. Tuy nhiên với phác đồ điều...
 5 năm trước
 1273 Lượt xem
TÁN SỎI NIỆU QUẢN AN TOÀN, KHÔNG ĐAU, KHÔNG XÂM LẤN TÁN SỎI NIỆU QUẢN AN TOÀN, KHÔNG ĐAU, KHÔNG XÂM LẤN 03:34
TÁN SỎI NIỆU QUẢN AN TOÀN, KHÔNG ĐAU, KHÔNG XÂM LẤN
Cảm nhận của chị Nguyễn Ngọc Linh sau khi được tán sỏi niệu quản tại BVĐK Phương ĐôngKhi vừa tan tiệc sinh nhật cho con trai, chị Ngọc Linh...
 5 năm trước
 1116 Lượt xem
Sỏi thận, tiết niệu - Điều trị thế nào cho an toàn, hiệu quả? Sỏi thận, tiết niệu - Điều trị thế nào cho an toàn, hiệu quả? 10:27
Sỏi thận, tiết niệu - Điều trị thế nào cho an toàn, hiệu quả?
Sỏi thận, tiết niệu là căn bệnh phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu đúng về bệnh, và không phải người bệnh nào cũng tìm được...
 5 năm trước
 1162 Lượt xem
Tin liên quan
Mức PSA thay đổi như thế nào sau khi cắt tuyến tiền liệt?
Mức PSA thay đổi như thế nào sau khi cắt tuyến tiền liệt?

PSA hay kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (prostate-specific antigen) là một loại protein được sản xuất bởi cả tế bào khỏe mạnh và tế bào ung thư ở tuyến tiền liệt. Mặc dù sàng lọc ung thư tuyến tiền liệt bằng xét nghiệm PSA không phải lúc nào cũng chính xác nhưng mức PSA tăng cao sau điều trị có thể là một dấu hiệu cho thấy ung thư đã tái phát.

Nội soi bàng quang có phát hiện được ung thư bàng quang không?
Nội soi bàng quang có phát hiện được ung thư bàng quang không?

Nội soi bàng quang là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh giúp bác sĩ quan sát bên trong bàng quang của người bệnh. Nội soi bàng quang giúp phát hiện nhiều vấn đề về bàng quang, trong đó có cả ung thư bàng quang. Trên thực tế, nội soi bàng quang là một phần quan trọng trong chẩn đoán ung thư bàng quang.

Khi nào cần nội soi bàng quang?
Khi nào cần nội soi bàng quang?

Nội soi là kỹ thuật đưa một thiết bị có dạng ống hẹp có gắn camera và đèn chiếu sáng vào bên trong cơ thể người bệnh. Đây là một kỹ thuật được sử dụng phổ biến trong chẩn đoán bệnh. Trong quá trình nội soi bàng quang, ống nội soi được đưa qua niệu đạo vào bàng quang. Hình ảnh thu được từ camera sẽ hiển thị trên màn hình, cho pháp bác sĩ quan sát bên trong bàng quang của người bệnh.

Cuộc sống sẽ thay đổi như thế nào sau khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt
Cuộc sống sẽ thay đổi như thế nào sau khi điều trị ung thư tuyến tiền liệt

Mặc dù ung thư tuyến tiền liệt cũng là một căn bệnh nghiêm trọng nếu được phát hiện muộn nhưng nếu được phát hiện sớm thì tỷ lệ sống sốt rất cao. Nhiều nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt đã điều trị thành công và sống thọ sau điều trị. Tuy nhiên, cuộc sống sẽ có một số thay đổi sau quá trình điều trị ung thư.

Nguy Cơ Tái Phát Ung Thư Thận Sau Phẫu Thuật Cắt Thận
Nguy Cơ Tái Phát Ung Thư Thận Sau Phẫu Thuật Cắt Thận

Nguy cơ tái phát ung thư thận sau khi phẫu thuật có cao không? Giai đoạn hay mức độ ung thư tại thời điểm phẫu thuật càng cao thì bệnh càng dễ tái phát. Hầu hết các trường hợp tái phát xảy ra trong vòng 2 năm sau phẫu thuật.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây