Sơ cứu khi trẻ bị ngạt đường thở do dị vật
1. Ngạt đường thở - dấu hiệu, nguyên nhân và biến chứng
1.1 Ngạt đường thở là gì? Dị vật đường thở là gì?
Ngạt thở (nghẹt thở) là tình trạng một người không thể thở hoặc nói vì họng hoặc khí quản bị tắc nghẽn hoàn toàn. Nếu không sơ cứu kịp thời, tình trạng thiếu dưỡng khí có thể gây tổn thương não nghiêm trọng, thậm chí dẫn đến tử vong do ngạt thở.
Dị vật đường thở là các vật lạ rơi vào và mắc lại trong thanh quản, khí quản hay phế quản. Có 2 loại dị vật là vô cơ và hữu cơ. Dị vật đường thở là một tai nạn sinh hoạt có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, đặc biệt là trẻ em. Ước tính mỗi năm có khoảng 3.000 bệnh nhân tử vong vì những biến chứng của dị vật đường thở, tỷ lệ đặc biệt cao ở trẻ em 1 – 6 tuổi.
1.2 Dấu hiệu ngạt đường thở do dị vật
Dấu hiệu ngạt đường thở do dị vật khá đột ngột:
- Ngạt đường thở một phần: Nạn nhân hít thở khó khăn, tạo tiếng động lớn hoặc hớp khí để cố gắng thở, có thể nghe thấy tiếng rít quanh miệng. Nạn nhân có thể ho khan, khó chịu, sợ hãi do thiếu khí, da, môi trở nên nhợt nhạt, bầm đỏ hoặc chuyển xanh;
- Nghẹt đường thở hoàn toàn: Nạn nhân không thể ho, thở hoặc nói chuyện. Vì thiếu khí nên nạn nhân tỏ rõ triệu chứng cố gắng hít thở qua hiện tượng co kéo lồng ngực, các xương vai và hõm ức. Mặt của nạn nhân chuyển màu xám, môi tím xanh. Thông thường nạn nhân sẽ dùng cả 2 tay nắm chặt vào cổ họng, rất hốt hoảng.
1.3 Nguyên nhân ngạt đường thở do dị vật
Có 2 nguyên nhân chính:
Do người bệnh:
- Bệnh nhân đang ăn hoặc ngậm dị vật, do tác nhân nào đó làm bệnh nhân hít mạnh dị vật theo luồng không khí rơi vào đường thở. Các tác nhân gồm: khóc, cười, bịt mũi ép trẻ ăn, ép trẻ uống thuốc viên; tranh nhau ăn; vấp ngã, hắt hơi,...;
- Do trẻ phản xạ đóng mở thanh môn chưa hoàn chỉnh;
- Bố mẹ sơ ý trong việc ăn uống của trẻ;
- Tập quán ăn uống, tắm nước suối, uống nước suối gây dị vật sống vào đường thở;
- Liệt hầu họng.
Do nhân viên y tế:
- Nhổ răng gây rơi răng, mũi khoan răng rơi vào đường thở;
- Trong cấp cứu đặt ống nội khí quản đẩy dị vật rơi vào đường thở;
- Cho uống thuốc không đúng quy cách.
1.4 Biến chứng ngạt đường thở do dị vật
- Tử vong do ngạt thở cấp;
- Viêm phế quản; viêm phổi
- Xẹp phổi, áp xe phổi, tràn mủ màng phổi do áp xe vỡ vào màng phổi;
- Tràn khí màng phổi, trung thất do dị vật sắc đâm thủng khí quản;
- Giãn phế quản do dị vật bỏ quên lâu ngày;
- Sẹo hẹp thanh quản.
2. Hướng dẫn cách sơ cứu trẻ bị nghẹt đường thở do dị vật
2.1 Với người lớn và trẻ em trên 1 tuổi
Cách xử trí dị vật đường thở ở người lớn và trẻ em trên 1 tuổi như sau:
Bước 1: Hỏi nạn nhân
Nạn nhân bị ngạt thở sẽ không nói được. Nếu nạn nhân có thể nói, ho, khóc hoặc thở thì chứng tỏ họ đang bị ngạt đường thở một phần. Nếu nạn nhân còn trả lời được thì nên trấn an nạn nhân, khuyến khích nạn nhân ho, không sử dụng nghiệm pháp vỗ lưng (vì có thể đẩy dị vật vào sâu trong đường thở), theo dõi sát tình trạng của bệnh nhân và gọi cứu thương nếu tắc nghẽn đường thở không giảm.
Nếu nạn nhân không trả lời được, nên gọi cấp cứu.
Nếu nạn nhân còn tỉnh, truyền đạt ý định tiến hành sơ cứu để họ phối hợp theo.
Bước 2: Thực hiện sơ cứu
5 lần vỗ lưng bằng gót bàn tay:
- Dùng phần gót bàn tay vỗ mạnh vào lưng nạn nhân 5 lần riêng biệt tại vị trí giữa 2 bả vai;
- Đảm bảo việc vỗ lưng đủ mạnh, mỗi lần vỗ lưng tách biệt để đánh bật dị vật ra;
- Đánh giá tình trạng cải thiện sau mỗi lần vỗ lưng.
5 lần đẩy bụng (nghiệm pháp Heimlich):
- Đứng phía sau nạn nhân;
- Dùng 2 tay ôm quanh eo nạn nhân, bên dưới khung xương sườn;
- Dùng mặt dưới của nắm tay đặt lên gần trung tâm bụng nạn nhân (cạnh ngón tay cái tỳ vào bụng) ở phía trên rốn và dưới mũi ức (vùng thượng vị);
- Nắm tay được bọc trong bàn tay bên kia;
- Thực hiện đẩy bụng từng lần riêng biệt và dứt khoát theo hướng vào trong và lên trên. Tiếp tục cho tới khi dị vật tắc nghẽn được đánh bật ra – kiểm tra sau mỗi lần đẩy bụng. Dừng thao tác nếu nạn nhân bất tỉnh.
Nếu tình trạng tắc nghẽn đường thở chưa được cải thiện thì tiếp tục luân phiên 5 lần vỗ lưng và 5 lần đẩy bụng cho tới khi đánh bật dị vật ra khỏi đường thở.
Bước 3: Lấy dị vật
Đảm bảo dị vật được đánh bật ra hoàn toàn. Nếu có thể nên yêu cầu nạn nhân nhổ dị vật ra. Với những nạn nhân quá yếu, bị bất tỉnh thì người sơ cứu dùng ngón tay để kiểm tra và lấy dị vật trong miệng ra.
Kiểm tra xem nạn nhân đã thở bình thường trở lại chưa. Nếu nhịp thở không trở lại bình thường, kiểm tra miệng và lấy bỏ dị vật trong miệng nạn nhân, bắt đầu hồi sinh tim phổi. Luân phiên đẩy bụng, kiểm tra đường thở và hồi sinh tim phổi cho tới khi dịch vụ cấp cứu tới.
2.2 Với trẻ em dưới 1 tuổi
Khuyến khích ho ở trẻ bị tắc nghẽn đường thở một phần:
Nếu trẻ đang ho hoặc nôn khan chứng tỏ đường thở của trẻ chỉ bị tắc nghẽn một phần, trẻ không bị thiếu oxy hoàn toàn nên cần khuyến khích trẻ ho để loại bỏ dị vật.
Sơ cứu cho trẻ bị tắc nghẽn đường thở hoàn toàn:
Nếu trẻ không thể khóc hoặc phát ra âm thanh chứng tỏ trẻ đã bị tắc nghẽn đường thở hoàn toàn, không thể tự loại bỏ dị vật bằng cách ho, lúc này cần sơ cứu cho trẻ. Một số lưu ý:
- Không cố loại bỏ dị vật bằng tay vì có thể làm dị vật chui vào họng trẻ sâu hơn, gây tổn thương họng hoặc kích thích gây co thắt thanh quản;
- Sơ cứu bằng cách đặt trẻ nằm sấp dọc theo cẳng tay, dùng gót bàn tay đập vào khoảng lưng giữa 2 xương vai 5 lần liên tục, chậm, chắc. Sau đó kiểm tra dị vật đã văng ra chưa, trẻ đã thông đường thở chưa (da hồng hào trở lại, khóc lớn);
- Nếu sau 5 lần đập lưng mà vẫn chưa thông đường thở, đặt trẻ nằm ngửa trên mặt phẳng an toàn, dùng 2 ngón tay giữa, ấn thẳng 1 góc 90o vào giữa xương ức (xương to giữa ngực trẻ), mức ngang với đường nối 2 núm vú của trẻ. Thực hiện ấn 5 lần chậm, chắc. Tiếp tục kiểm tra trẻ xem đã loại bỏ dị vật ra chưa. Nếu thấy có dị vật tống ra, còn ở trong miệng, nên nhẹ nhàng dùng ngón tay út lùa dị vật ra ngoài;
- Gọi cấp cứu ngay lập tức nếu không loại bỏ được dị vật ra khỏi đường thở của trẻ;
- Trong thời gian chờ cấp cứu, tiếp tục thực hiện 5 lần đập lưng, 5 lần ấn ngực xen kẽ cho tới khi trẻ khóc được hoặc đến khi xe cấp cứu đến;
- Nếu thấy trẻ bất tỉnh, làm hô hấp tim phổi nhân tạo.
3. Các biện pháp phòng ngừa ngạt đường thở do dị vật ở trẻ
- Để bóng bay, đồ chơi nhỏ, đồ chơi có thể tháo rời,... xa tầm tay của bé;
- Không để cúc áo, các loại pin, đồ đạc nhỏ,... trong tầm tay bé có thể với tới;
- Phòng ngừa sặc thức ăn bằng cách luôn cho bé ngồi một chỗ khi ăn, động viên bé ăn chậm, nhai kỹ, không ép bé ăn vì có thể khiến bé bị nghẹn.
Khi trẻ bị ngạt đường thở do dị vật, phụ huynh cần gọi cấp cứu và ngay lập tức thực hiện theo hướng dẫn sơ cứu để giúp bé đẩy dị vật ra ngoài, giảm tối đa nguy cơ gặp phải những biến chứng khó lường.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Bé hơn 6 tháng thường thở ra và thở dài khi ngủ có nguy hiểm không?
Em sinh bé đến nay đã được hơn 6 tháng. Nhưng từ lúc sinh ra đến giờ em thấy bé ngủ thường thở hơi ra và rất hay thở dài. Bé như vậy là bị làm sao và có nguy hiểm gì không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 1024 lượt xem
Trẻ 2,5 tháng sau khi ngắt sốt thì tiểu ít có nguy hiểm gì không?
Hiện bé nhà em đang được 2, 5 tháng tuổi. Em cho bé đi tiêm chích ngừa 6in1 về thì bé bị sốt 38,5. Sau đó em cho bé uống hạ sốt Hapacol 80. Tuy nhiên, khi uống xong bé có hạ sốt nhưng đến chiều lại sốt tầm 37,8 độ. Thế là từ 2 giờ chiều hôm đó đến 6h tối hôm sau, bé cứ sốt liên tục nên em cho uống tổng cộng 5 gói hạ sốt. Uống như thế có bị quá liều không ạ? Hiện giờ bé đã hết sốt nhưng bú ít, đi tiểu ít, có đêm không đi tiểu lần nào. Hàng ngày bé bú sữa mẹ và có bổ sung 1 cữ sữa công thức 60ml ạ. Bé tiểu ít như thế có nguy hiểm không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 1411 lượt xem
Tại sao trẻ 2 tháng nặng 6kg đêm hay quấy khóc và thở khò khè, ọc sữa?
Bé nhà em lúc sinh nặng 3,5kg. Sau 2 tháng tuổi bé nặng 6kg. Buổi tối từ 7 hoặc 8h tối, bé khóc suốt. Đến 10h thì tự nín và đi ngủ. Bé hay bị khò khè và hay ọc sữa do có nhớt ở trong miệng. Tình trạng của bé như vậy là sao ạ?
- 1 trả lời
- 1343 lượt xem
Trẻ sơ sinh 17 ngày tuổi bị khò khè, uống sữa thở mệt mỏi là bị làm sao?
Em sinh bé ở bệnh viện Từ Dũ, đến nay bé đã được 17 ngày tuổi. Tuy nhiên, từ ngày về nhà đến giờ bé luôn bị khò khè. Khi uống sữa thở rất mệt mỏi, ngủ thở cũng khò khè. Cháu như vậy là bị làm sao ạ?
- 1 trả lời
- 1571 lượt xem
Trẻ 1 tháng tuổi ngủ không sâu giấc và hay thở gấp là bị làm sao?
Em sinh bé mới được 1 tháng tuổi ạ. Không hiểu bé nhà em bị làm sao mà bé chỉ bú một lúc là nhả ra, rồi bé gồng cổ lên, mắt nhìn về 1 bên, sau đó khoảng 1 phút thì mới quay lại bú tiếp. Bé ngủ không sâu giấc, hay giật mình rồi uốn mình liên tục. Bé còn hay thở gấp và nghe thấy khò khè trong cổ họng nữa ạ. Bé nhà em như vậy là bị làm sao ạ?
- 1 trả lời
- 1163 lượt xem
Khi một đứa trẻ bị dị ứng với vật nuôi hít phải hoặc tiếp xúc với nước bọt hoặc phân, hệ thống miễn dịch của bé sẽ cảnh báo và giải phóng histamine cùng hơn 40 hóa chất khác để chống lại chất gây dị ứng.
Sốt xuất huyết là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử vong ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Sốc phản vệ xảy ra khi hệ thống miễn dịch nhầm lẫn, phản ứng với một chất vô hại như thể nó là một mối đe dọa nghiêm trọng. Điều này kích hoạt cơ thể giải phóng histamin và các hóa chất khác, gây ra một số triệu chứng - một số trong đó có thể đe dọa tính mạng.
Luôn phải tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi cho con hoặc trẻ mới biết đi uống bất kỳ loại thuốc nào, đặc biệt nếu đó là lần đầu tiên. Trẻ nhỏ có nhiều khả năng xảy ra phản ứng phụ với thuốc hơn so với người lớn, vì vậy cho trẻ dùng thuốc theo toa hoặc không kê toa (OTC) - ngay cả thuốc "tự nhiên" hoặc "thảo dược" - là việc làm cần hết sức thận trọng.
Nguyên nhân thường gặp nhất khiến trẻ đau họng là gì? Khi bé đau họng bố mẹ cần làm gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





