1

Kháng nguyên và sự biến đổi kháng nguyên

Những kháng nguyên sử dụng cho những thử nghiệm chẩn đoán huyết thanh có nhiều dạng từ vi khuẩn nguyên thể đến những peptide tổng hợp.

1. Loại kháng nguyên (Antigen type)

Vi khuẩn nguyên thể thường là dạng đầu tiên được chọn vì ít phải xử lý (chế biến) nhất. Những thành phần của vi khuẩn như nang carbohydrates, màng ngoài hay proteins, lipopolysaccharides, enzymes ngoại bào và độc tố cũng có thể được sử dụng làm kháng nguyên sau khi đã tinh chế. Một số trong đó được tinh chế ở dạng thô. Sử dụng thành phần vi khuẩn đã tinh chế có thể làm giảm tính không đặc hiệu và có thể tăng tính kích thích miễn dịch của kháng nguyên.

Phức hợp kháng nguyên thì khó chuẩn hóa hơn do có nhiều quyết định kháng nguyên (epitopes). Tuy nhiên, những kháng nguyên có độ tinh khiết cao, như polypeptides, cũng có thể còn có nhiều điểm nhận biết kháng nguyên. Tất cả những nơi đó có thể cạnh tranh đáp ứng kháng thể, và một số có ưu thế hơn những nơi khác (6). Điểm mà kháng thể nhận ra có thể là nơi kháng nguyên là then chốt cho bệnh sinh cũng có thể là không phải (7). Tuy nhiên, yếu tố độc lực có xu hướng thường được nhận biết hơn.

Kháng nguyên và sự biến đổi kháng nguyên
Màng ngoài lipopolysaccharides của vi khuẩn có thể sử dụng làm kháng nguyên

 

2. Sự biến đổi kháng nguyên (Antigen modification)

Mặc dù nơi nhận biết kháng thể có thể ở lớp carbohydrate nhỏ hoặc lớp polypeptide, cấu tạo phức tạp hơn đó là tùy thuộc vào kiểu nếp thứ 2 hoặc thứ 3 của cấu trúc có thể cũng gây kích thích đáp ứng miễn dịch (dependent on secondary or tertiary folding patterns of the structure may also serve to stimulate a response).

Biểu hiện sau cùng của hệ thống miễn dịch có thể thay đổi khi những kháng nguyên được tạo bằng những cách khác nhau (The latter appearance to the immune system may be subject to change when antigens are prepared in different ways). Thí dụ, kháng nguyên là vi khuẩn nguyên thể thì thường bị bất hoạt trên lam kính xảy ra đối với nghiên cứu miễn dịch huỳnh quang; những phương pháp cố định khác nhau như hơi nóng, acetone, formalin ethanol cũng có thể làm ảnh hưởng đến kháng nguyên (8). Hơn nữa, độ tinh khiết hoặc phương pháp cố định có thể cũng làm thay đổi hoạt tính kháng nguyên do xử lý hóa học. Đối với thử nghiệm IFA, cố định bằng acetone được ưa thích hơn.

3. Giá đỡ kháng nguyên (Antigen carriers)

Những phương pháp ngưng kết thường sử dụng vi khuẩn nguyên thể, trong khi một số phương pháp khác, kháng nguyên được gắn trên pha cứng như hạt latex hay hồng cầu. Những kháng nguyên có thể thích hợp trên giá mang này mà không thích hợp trên những giá mang khác. Thí dụ, một số lipopolysaccharides (LPSs) của vi khuẩn có ái lực hơn đối với thụ thể hồng cầu ở dạng gắn kết thụ động (9) trong khi những LPSs khác sẽ gắn với hồng cầu chỉ sau khi ‘tanning’ (biến đổi bề mặt) (10, 11) và những thành phần khác thì không gắn gì cả.

Chất dẻo, nitrocellulose, nylon và thủy tinh có tính gắn khác nhau đối với những kháng nguyên khác nhau. Giá cứng dùng cho phản ứng kháng nguyên-kháng thể phải được đánh giá xem loại nào là tối ưu nhất cho phản ứng.

 

Kháng nguyên và sự biến đổi kháng nguyên
Lipopolysaccharides (LPSs) của Vi khuẩn

 

4. Yếu tố biến đổi tính kháng nguyên

Không có kháng nguyên nào dùng để tạo đáp ứng miễn dịch thể dịch mà không phải qua đánh giá đáp ứng kháng thể bằng những kỹ thuật đặc biệt. Xử lý kháng nguyên trong phạm vi đại thực bào và những tế bào miễn dịch khác tạo ra nguồn lớn (phong phú) cho hệ thống tạo kháng thể.

Yếu tố độc lực thường là đích của đáp ứng miễn dịch trong nhiễm khuẩn hoạt động, mặc dù điều này không phải lúc nào cũng đúng. Chẳng hạn, trường hợp tái nhiễm B. pertussis là rất khác thường sau khi bị ho gà do thiếu đáp ứng miễn dịch (12). Kháng thể có xu hướng liên quan đến số lượng yếu tố độc lực trong tình huống này. Trong bệnh nhiễm xoắn khuẩn Borrelia (bệnh Lyme), đáp ứng kháng thể mạnh mẽ tạo ra có xu hướng làm thay đổi proteins màng ngoài của vi khuẩn. Còn trong nhiều bệnh liên quan đến độc tố, như độc tố vero của E. coli hay độc tố bạch hầu hoặc uốn ván (13), đáp ứng kháng thể mạnh mẽ với yếu tố độc lực đặc hiệu không cần thiết gia tăng trong giai đoạn nhiễm khuẩn đang hoạt động (14). Sự đáp ứng mạnh mẽ của kháng độc tố bạch hầu (anti-diphtheria toxin) tạo ra nhiều hơn sau khi chích ngừa so với khi bị nhiễm khuẩn tự nhiên.

Mặc dù cơ chất cho sự tương tác kháng thể dường như là một phân tử bất hoạt, nhiều thử nghiệm chẩn đoán huyết thanh học dựa trên khả năng của kháng thể ngăn cản hoàn toàn hoặc giảm tiến trình enzym, ví dụ thử nghiệm ASOT cho nhiễm S. pyogenes (một hình thức trung hòa).

Một số dạng kháng nguyên vốn đã không có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch. Đối với những carbohydrates, là minh họa tốt nhất, do đáp ứng nghèo nàn với nang của pneumococci, nang của meningococci và nang của H. influenzae type b ở trẻ em dưới 2 tuổi (15-17). Sự liên kết nhiều kháng nguyên trên giá mang kháng nguyên có thể tăng cường rõ rệt đáp ứng miễn dịch, ví dụ vaccin cộng hợp của H. influenzae type b (18).

Phương pháp chẩn đoán huyết thanh tự nó có thể có ý nghĩa về mức độ của đáp ứng miễn dịch mà được cân nhắc khi những kháng nguyên đặc biệt không thể có. Chẳng hạn, trích xuất Mycoplasma pneumoniae bằng chloroform-methanol để sử dụng thành phần glycolipid không hoàn toàn tinh khiết (19); gần đây được sử dụng trong thử nghiệm CF truyền thống và không tính đến đo lường đáp ứng kháng polypeptide với vi khuẩn. Ngược lại, làm tiêu polypeptides M. pneumoniae bằng SDS-PAGE trước khi thực hiện immunoblotting đảm bảo rằng kháng nguyên glycolipid là thiếu cơ sở để đánh giá miễn dịch.

 

Kháng nguyên và sự biến đổi kháng nguyên
Phương pháp chẩn đoán huyết thanh được ứng dụng trong y học lâm sàng

5. Những kháng nguyên điều chỉnh lại (Retro-fitting)

Kỹ thuật sinh học phân tử đưa ra cách chuẩn bị kháng nguyên. Trong quá khứ, kháng nguyên được đánh giá ban đầu một cách ngẫu nhiên về khả năng của nó sinh ra đáp ứng miễn dịch thậm chí trước khi nó được biết là một cấu trúc quan trọng. Những phương pháp di truyền học hiện nay thường đưa ra một số chỉ dẫn (indication) có hay không yếu tố độc lực của một số loại đã sản xuất. Kể từ đó, có thể xác định trình tự gen và thiết kế những đoạn peptides ngắn cho mục đích xác định đáp ứng miễn dịch (20). Phương pháp sau có khả năng hỗ trợ để tạo kháng nguyên cho chẩn đoán huyết thanh đôi khi cũng để loại trừ phản ứng chéo hoặc không xảy ra phản ứng. Nhiều phương pháp đưa ra có thể áp dụng để thiết kế những thử nghiệm chẩn đoán huyết thanh các virus chưa cấy được dù bộ gen của chúng được nghiên cứu kỹ (21), có khả năng áp dụng vào chẩn đoán nhiễm khuẩn gây ra do các vi khuẩn không thể cấy.

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Ho Rát Họng Có Đờm
Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Ho Rát Họng Có Đờm

Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.

[Góc giải đáp] Viêm Phế Quản Có Lây Không?
[Góc giải đáp] Viêm Phế Quản Có Lây Không?

Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.

Triệu Chứng Ho Sốt Đau Họng
Triệu Chứng Ho Sốt Đau Họng

Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.

Tìm Hiểu Và Phòng Tránh Các Bệnh Về Họng
Tìm Hiểu Và Phòng Tránh Các Bệnh Về Họng

Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.

Dấu Hiệu Viêm Phổi Ở Trẻ Nhỏ Do Vi Khuẩn Mycoplasma
Dấu Hiệu Viêm Phổi Ở Trẻ Nhỏ Do Vi Khuẩn Mycoplasma

Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.

Tin liên quan
Tinh dầu bạc hà có tác dụng gì đối với hội chứng ruột kích thích (IBS)?
Tinh dầu bạc hà có tác dụng gì đối với hội chứng ruột kích thích (IBS)?

Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn tiêu hoá gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón. Nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng này vẫn chưa được xác định nhưng các tác nhân kích hoạt triệu chứng gồm có mốt số loại thực phẩm, đồ uống và stress.

Thiếu máu ác tính: Triệu chứng, nguyên nhân và điều trị
Thiếu máu ác tính: Triệu chứng, nguyên nhân và điều trị

Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.

Thiếu máu do thiếu sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Thiếu máu do thiếu sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.

Ứ sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị
Ứ sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.

Ngộ độc sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị
Ngộ độc sắt: Nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Trong hầu hết các trường hợp, nguyên nhân gây ngộ độc sắt là do dùng viên uống sắt hoặc vitamin tổng hợp chứa sắt liều quá lớn. Điều này chủ yếu xảy ra ở trẻ nhỏ.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây