Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập180
  • Thành viên online1
  • Máy chủ tìm kiếm72
  • Khách viếng thăm107
  • Hôm nay34,860
  • Tháng hiện tại1,637,470
  • Tổng lượt truy cập39,065,092

Điều trị vỡ phình động mạch não bằng vòng xoắn kim loại - bệnh viện 103

1. Nguyên nhân, dịch tễ, phân loại phình động mạch não

– Trước đây người ta cho rằng phình động mạch não là do bẩm sinh (congenital), nhưng ngày nay người ta đã chứng minh rằng phình động mạch não là do tổn thương vi mô của thành động mạch não trong quá trình vữa xơ động mạch, do dòng chảy bất thường ở vị trí phân chia của các động mạch.

Tăng huyết áp, uống nhiều rượu, hút thuốc lá và một số nguyên nhân khác là do nấm, nhiễm khuẩn, chấn thương, nghiện ma tuý đặc biệt Cocain gây viêm, phóng xạ và u [10].

– Tỷ lệ mắc bệnh khoảng 1,5% – 8%, trung bình là 5% ở Hoa kỳ và các nước châu Âu, châu Mỹ (Việt Nam chưa có số liệu thống kê). Ước tính có khoảng 10 đến 15 triệu người Hoa Kỳ mắc phình động mạch não.

Tuổi thường gặp 40- 65. Nữ có tỷ lệ lớn hơn nam 1,6 lần. Theo các nghiên cứu, tỷ lệ vỡ túi phình khoảng 3/100000 dân ở Hoa Kỳ, Nhật bản là 40/100000 dân. Tỷ lệ vỡ phình động mạch não khoảng 1% trong số người mắc [7].

Tỷ lệ này sẽ tăng lên theo thời gian, kích thước phình mạch trên 10 mm, tăng huyết áp và nữ giới. Các nghiên cứu khám nghiệm tử thi đã cho thấy tỷ lệ dân cư nói chung mắc phình động mạch não dao động từ 0,4% đến 10% [10].

– Có nhiều cách phân loại phình động mạch não, thông thường dựa vào hình thái chia ra: phình động mạch não hình túi, hình thoi và phình bóc tách. Phình mạch dạng túi hay gặp nhất, 85% nằm ở vòng tuần hoàn não trước, trong đó động mạch thông trước 30 đến 35%, thông sau và cảnh trong 30%, não giữa 20%, ở vòng tuần hoàn não sau 15%. Một túi phình có tỷ lệ 80-85%, nhiều túi phình có tỷ lệ 15-20%.

Những bệnh nhân có nhiều phình động mạch não thường kèm theo bệnh thận đa nang hoặc có nang ở một số tạng khác. Cơ chế bệnh sinh chưa rõ chỉ là giả thuyết, giả thuyết hợp lý nhất là do động lực máu tác động lên thành động mạch tại những chỗ phân chia, cùng với sự giảm sản hoặc không có của lớp áo giữa của động mạch hình thành và vỡ phình mạch Wanke I [10].

2. Lịch sử các phương pháp điều trị vỡ phình động mạch não

– Vào những năm 60 của thế kỷ 20 việc điều trị vỡ phình động mạch não chủ yếu bằng thuốc, với phương pháp này tỷ lệ tử vong lên tới trên 60% [7].

– Từ năm 1960 đến năm 1990 thế giới điều trị vỡ phình mạch bằng phẫu thuật mở sọ tìm và kẹp cổ túi phình động mạch não bằng clip (clipping) [7].

– Năm 1991 Guido Guglielmi, bác sĩ phẫu thuật thần kinh người Ý lần đầu tiên phát minh ra phương pháp dùng vòng xoắn kim loại (coil) gắn với dây đẩy, đưa qua một ống thông siêu nhỏ (microcatheter) vào trong lòng túi phình.

Sau đó được cắt rời bằng dòng điện một chiều, làm đông máu trong lòng túi phình loại bỏ phình mạch ra khỏi hệ động mạch não mà vẫn bảo tồn động mạch nuôi gọi là phương pháp GDC (vòng xoắn kim loại GDC).

Với hơn 20 năm ra đời cùng với sự tiến bộ vượt bậc về các thiết bị, dụng cụ và máy móc phương pháp này đã khẳng định được tính ưu việt và được công nhận là một tiến bộ y học 

3. Điều trị phình động mạch não

3.1. Điều trị phình mạch chưa vỡ

  • Đây vẫn là một chủ đề gây nhiều tranh luận và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về chỉ định phương pháp điều trị. Việc xử lý phình mạch chưa vỡ vẫn còn gây nhiều tranh luận và phụ thuộc vào sự hiểu biết đầy đủ về tiền sử của bệnh, những rủi ro gặp phải trong điều trị và cái giá phải trả nếu kéo dài thời gian mang bệnh.
  • Phình mạch ngày càng được phát hiện nhiều hơn nhờ tăng cường sử dụng các phương pháp chụp hình chính xác, phình mạch chưa vỡ sẽ thường xuyên được phát hiện ở các đơn vị có chụp mạch thần kinh và việc điều trị các bệnh nhân này là vấn đề phức tạp chung của thế giới.
  • Xu thế hiện nay trên thế giới điều trị phình mạch chưa vỡ để đề phòng CMDN đặt biệt là những phình mạch có nguy cơ vỡ cao.

3.2. Điều trị phình mạch đã vỡ

Chảy máu dưới nhện là biến chứng thường gặp nhất ở bệnh nhân có phình mạch não đã vỡ. Do tỷ lệ tái chảy máu của phình mạch đã vỡ phụ thuộc vào vị trí phình mạch lên tới 50%, điều trị phình mạch đã vỡ rõ ràng là cần kíp.

Sự phân loại lâm sàng các triệu chứng của bệnh nhân được Hunt và Hess tóm tắt. Sự phân loại này được quốc tế chấp nhận và sử dụng rộng rãi để mô tả tình trạng bệnh nhân khi nhập viện sau khi bị chảy máu dưới nhện.

Để ngăn chặn chảy máu tái phát chỉ có 2 phương pháp điều trị là:

  • Phẫu thuật mở sọ kẹp cổ túi phình (cliping)
  • Làm đông máu trong lòng túi phình bằng can thiệp nội mạch (coiling)

Điều trị can thiệp là phương pháp được áp dụng đầu tiên trong chuỗi các biện pháp điều trị vỡ phình động mạch não, không chỉ ngăn ngừa tái vỡ phình mạch mà còn tạo điều kiện điều trị tích cực để giảm thiểu các biến chứng khác như co mạch, rối loạn điện giải, tắc lưu thông dịch não tuỷ mạn tính… làm giảm tỷ lệ tử vong và tàn phế.

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây