Điều trị và dự phòng viêm phổi hít trong gây mê
1. Điều trị viêm phổi hít trong gây mê
Phát hiện sớm và nhanh chóng hút sạch ngay khi thấy dịch dạ dày xuất hiện trong họng hay trào vào khí quản, đặt tư thế đầu thấp và xoay đầu về một bên nếu có thể nhằm hạn chế dịch trong họng tiếp tục di chuyển thụ động vào đường thở.
Hút dịch có thể thực hiện trước hoặc sau khi đặt nội khí quản tùy vào tình trạng trào ngược còn diễn tiến hay không hoặc có nhìn thấy rõ khí quản hay không?
Nội soi phế quản để hút dịch cũng được khuyến cáo nếu như có trang bị, và nên được chuẩn bị sẵn sàng cho các trường hợp nghi ngờ có nguy cơ trào ngược cao qua đánh giá người bệnh trước gây mê.
Quyết định tiếp tục hay trì hoãn phẫu thuật tùy thuộc vào mức độ khẩn cấp của ca mổ. Độ bão hòa oxy máu, độ compliance phổi và đáp ứng của người bệnh với thuốc dãn phế quản và thông khí áp lực dương cuối thì thở ra. Thông khí cơ học bảo vệ phổi. Đặt thông mũi dạ dày để hút hoặc dẫn lưu trọng lực giải áp để tránh tái hít.
Kháng sinh và corticoid không được khuyến cáo sử dụng thường quy mà cá nhân hóa tùy thuộc vào tình trạng người bệnh. Trường hợp quyết định dùng kháng sinh, cần lấy mẫu cấy vi sinh qua soi hút để có cơ sở xuống thang kháng sinh hoặc ngưng kháng sinh nếu không có bằng chứng nhiễm khuẩn.
Ngưng tuần hoàn và hô hấp có thể xảy ra trong trường hợp nặng. Bệnh nhân cần được hồi sinh tim phổi ngay lập tức cùng lúc với việc làm thông thoáng đường thở. Nếu có thể, can thiệp trao đổi oxy qua màng (ECMO) giúp ổn định bệnh nhân và đánh giá khả năng hồi phục của phổi.
Bên cạnh đó, bệnh viện đã đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại hỗ trợ các bác sĩ trong quá trình phẫu thuật và hồi sức cho người bệnh có thể kể đến như: Hệ thống tim phổi nhân tạo HR20 của Maquet, Máy thở R860 của GE.
2. Dự phòng viêm phổi hít trong gây mê
Vì tỉ lệ biến chứng và tử vong cao gây ra do viêm phổi hít nên công tác dự phòng cực kỳ quan trọng. Với bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ hít, mục đích chính của dự phòng là làm giảm tần suất và lượng hít, giảm thiểu sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh.
2.1 Đánh giá trước gây mê
Đánh giá tình trạng người bệnh cùng với tiền sử bệnh, các dấu hiệu làm tăng nguy cơ trào ngược dẫn đến viêm phổi hít như: bệnh lý trào ngược dạ dày thực quản, rối loạn nuốt hay khó nuốt, tiền căn tiểu đường, đầy hơi hoặc có dấu hiệu của tình trạng chậm làm trống dạ dày, ung thư gây tắc nghẽn thực quản.
2.2 Nhịn ăn trước mổ
Tuân thủ khuyến cáo nhịn ăn và uống theo khung thời gian nhất định theo hướng dẫn ASA.
2.3 Đặt thông mũi dạ dày dự phòng
Hiện nay còn thiếu dữ liệu nghiên cứu ủng hộ kể cả trong mổ cấp cứu (trừ trường hợp có nghi ngờ tắc/liệt ruột). Do đó, việc sử dụng ống thông mũi phải được quyết định bởi bác sĩ phẫu thuật và bác sĩ gây mê dựa trên tình trạng bệnh nhân và mức độ cần thiết của việc đặt ống thông. Cần xem xét cẩn thận các rủi ro và lợi ích, vì việc đặt ống thông mũi dạ dày thực sự có thể góp phần gây nôn và hít sau đó ở một số bệnh nhân.
Ngoài ra, đặt ống thông mũi dạ dày ở bệnh nhân trải qua phẫu thuật thực quản có nguy cơ chấn thương cao, đặc biệt ở những bệnh nhân bị tắc nghẽn do thoát vị hoặc tắc nghẽn ung thư thực quản.
Trong những trường hợp này, bác sĩ phẫu thuật nên có mặt trong phòng trong khi gây mê để cùng thảo luận và quyết định. Nếu bệnh nhân đã đặt ống thông mũi dạ dày, việc hút dạ dày nên được thực hiện.
2.4 Dùng thuốc
Thuốc kháng Histamin và ức chế bơm proton được cho là làm tăng pH, giảm thể tích dịch dạ dày tồn lưu. Tuy nhiên, việc tăng độ pH của dịch dạ dày không loại bỏ hoàn toàn nguy cơ viêm phổi hít.
Các thuốc khác như domperidol, metoclopramide, erythromycin, và renzapride có thể làm tăng quá trình làm trống dạ dày nhưng chưa được ASA khuyến cáo dụng.
Dẫn mê nhanh - Rapid Sequence Induction (RSI)
- Thở oxy dự trữ
- Tiêm thuốc mê và thuốc giãn cơ nhanh thay vì dò liều hiệu quả
- Ấn sụn nhẫn - Sellick (không khuyến cáo cho mọi bệnh nhân)
- Tránh thông khí
- Đặt nội khí quản đường miệng bằng đèn soi trực tiếp hay đèn soi video
Mặc dù về mặt lý thuyết là hiệu quả tốt, tuy nhiên tác động của RSI đối với việc ngăn chặn hít không rõ ràng. Hít là một biến cố hiếm gặp và nghiên cứu cần số lượng bệnh nhân rất lớn để xác định liệu có sự khác biệt về tỷ lệ hít giữa có và không có RSI hay không.
Ngoài ra, định nghĩa về RSI rất khác nhau và không được áp dụng giống nhau nên việc so sánh giữa các nghiên cứu rất khó khăn và đầy thách thức. Các tác giả cũng kiểm tra bằng chứng cho việc sử dụng nghiệm pháp ấn sụn nhẫn; không có dữ liệu ủng hộ việc sử dụng ấn sụn nhẫn thường quy và nhiều nghiên cứu cho thấy ít nhất 50% có thực quản bị di lệch vị trí so với sụn nhẫn.
Trong khi đó, ấn sụn nhẫn có thể làm biến dạng sụn nhẫn và làm tắc nghẽn đường thở. Kết luận cho rằng ấn sụn nhẫn là một thực hành lành tính và nên được sử dụng trong RSI, nhưng cần giảm áp lực ấn hoặc ngưng thủ thuật nếu nó gây khó khăn cho việc thông khí và đảm bảo đường thở.
2.5 Tư thế bệnh nhân khi dẫn mê
- Đặt tư thế đầu thấp 15-20o kết hợp ấn sụn nhẫn
- Tư thế nằm nghiêng: hạn chế hít nhưng gây khó khăn khi đặt ống thở
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Nếu bị rụng tóc nhiều bất thường dù đã điều chỉnh chế độ ăn uống và thói quen sinh hoạt thì có thể nguyên nhân là do một vấn đề sức khỏe tiềm ẩn. Một trong những nguyên nhân đó là mức ferritin thấp.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.





