Điều trị U lympho ác tính không Hodgkin
1. Bệnh U lympho không Hodgkin là gì?
Theo thống kê, mỗi năm Việt Nam có hơn 2000 trường hợp bị chẩn đoán mắc U lympho không Hodgkin, căn bệnh này có thể xảy ra ở bất cứ ai, không phân biệt độ tuổi, giới tính.
U lympho không Hodgkin là bệnh lý ung thư tế bào bạch cầu dòng lympho, khi mới khởi phát, bệnh thường biểu hiện tại hạch (khoảng 60%) hoặc u ở ngoài hạch và bất cứ cơ quan, vị trí nào trong cơ thể người bệnh. Về mô bệnh học, U lympho không Hodgkin gặp chủ yếu dòng bạch cầu lympho B còn lại là dòng bạch cầu lympho T và tế bào NK.
2. Nguyên nhân gây bệnh U lympho không Hodgkin
Cho đến thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm ra nguyên nhân chính gây ra bệnh U lympho không Hodgkin, tuy nhiên, trong một số trường hợp, yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh có thể là do hệ thống miễn dịch của người bệnh suy yếu nên khiến cho cơ thể sản xuất quá nhiều tế bào lympho bất thường.
Thông thường, khi tế bào lympho cũ chết đi thì cơ thể sẽ tạo ra những tế bào mới để thay thế chúng, tuy nhiên, đối với bệnh nhân mắc U lympho không Hodgkin thì các tế bào lympho không chết, chúng tiếp tục phát triển và phân chia và dẫn đến tình trạng thừa cung của tế bào lympho chen vào các hạch bạch huyết khiến chúng sưng lên và gây ra bệnh.
3. Triệu chứng bệnh U lympho không Hodgkin
Một vài triệu chứng điển hình ở người bệnh U lympho không Hodgkin bao gồm:
- Mệt mỏi kéo dài
- Sốt
- Đổ mồ hôi ban đêm
- Sưng ở cổ, nách hoặc háng, các hạch bạch huyết không đau
- Đau bụng hoặc sưng bụng
- Đau ngực, ho, khó thở
- Giảm cân không rõ nguyên nhân
4. Điều trị U lympho ác tính không Hodgkin
Hiện nay, bệnh u lympho không Hodgkin được điều trị bằng 4 phương pháp chính gồm: Xạ trị, hóa trị, liệu pháp miễn dịch và liệu pháp nhắm trúng đích. Trong quá trình điều trị u lympho không Hodgkin thông thường, các bác sĩ có thể áp dụng kết hợp các phương pháp điều trị hoặc chỉ định phương pháp phẫu thuật loại bỏ khối u hoặc ghép tế bào gốc trong trường hợp cần thiết.
Tuy nhiên, để có thể đưa ra phác đồ điều trị u lympho ác tính không Hodgkin phù hợp với tình hình sức khỏe của người bệnh, bác sĩ sẽ cần phải dựa vào một số yếu tố như: Giai đoạn bệnh, loại u lympho ác tính không Hodgkin, các tác dụng phụ có thể gặp, tình trạng sức khỏe bệnh nhân...
- Điều trị u lympho không Hodgkin bằng hóa trị
Phương pháp hóa trị điều trị u lympho ác tính không Hodgkin được xem là phương pháp chính, trong quá trình hóa trị, người bệnh có thể được chỉ định sử dụng một số loại thuốc, tùy vào giai đoạn bệnh sẽ có phác đồ sử dụng hóa chất điều trị khác nhau.
- Điều trị u lympho không Hodgkin bằng xạ trị
Phương pháp xạ trị điều trị u lympho ác tính không Hodgkin sẽ được áp dụng sau hoặc bổ sung cho phương pháp hóa trị.
- Điều trị u lympho không Hodgkin bằng liệu pháp miễn dịch
Liệu pháp miễn dịch có thể giúp tăng cường khả năng phòng vệ của cơ thể chống lại khối u ở bệnh nhân mắc u lympho ác tính không Hodgkin. Đối với phương pháp này, các bác sĩ sẽ sử dụng kháng thể đơn dòng, hoặc các loại thuốc có khả năng ức chế tế bào CAR-T và điểm kiểm soát miễn dịch trong cơ thể người bệnh. Liệu pháp miễn dịch có thể cải thiện hoặc giúp khôi phục chức năng hệ thống miễn dịch của cơ thể người bệnh.
- Điều trị u lympho không Hodgkin bằng liệu pháp nhắm trúng đích
Nhắm trúng đích là phương pháp điều trị u lympho ác tính không Hodgkin có thể giúp ngăn chặn sự phát triển và lây lan của các tế bào ung thư, đồng thời giúp hạn chế thương tổn với những tế bào khỏe mạnh trong cơ thể của người bệnh.
Ngoài 4 phương pháp điều trị u lympho ác tính không Hodgkin thì bác sĩ có thể tùy tình hình để chỉ người bệnh điều trị bằng phương pháp ghép tủy hoặc ghép tế bào gốc.
Trong quá trình điều trị u lympho ác tính không Hodgkin, việc kiểm soát bệnh đóng vai trò rất quan trọng. Người bệnh cần tuyệt đối tuân thủ phác đồ điều trị cũng như chăm sóc mà bác sĩ đưa ra.
Sàng lọc ung thư sớm được coi là biện pháp hoàn hảo trong việc phát hiện và điều trị kịp thời các loại ung thư. Giảm chi phí điều trị và nhất là giảm tỷ lệ tử vong ở người bệnh.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Có nhiều cách kiểm soát chứng đau nửa đầu, từ dùng thuốc cho đến các biện pháp điều trị tự nhiên. Nghiên cứu gần đây cho thấy hoa oải hương có thể làm giảm chứng đau nửa đầu. Hoa oải hương có thể được sử dụng theo nhiều cách khác nhau để trị đau nửa đầu. Một trong số đó là sử dụng tinh dầu oải hương. Cùng tìm hiểu xem liệu điều trị đau nửa đầu bằng tinh dầu oải hương có hiệu quả hay không và cách sử dụng ra sao.
Hội chứng ruột kích thích (irritable bowel syndrome – IBS) là một rối loạn tiêu hoá gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, chướng bụng, tiêu chảy và táo bón. Nguyên nhân chính xác gây ra hội chứng này vẫn chưa được xác định nhưng các tác nhân kích hoạt triệu chứng gồm có mốt số loại thực phẩm, đồ uống và stress.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Sắt tích tụ trong các cơ quan có thể dẫn đến nhiều biến chứng nguy hiểm.





