Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập278
  • Máy chủ tìm kiếm19
  • Khách viếng thăm259
  • Hôm nay33,966
  • Tháng hiện tại1,268,333
  • Tổng lượt truy cập43,121,616

Đau tim từ... viêm họng - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Vi khuẩn một khi vượt qua được hàng rào bảo vệ của cơ thể có thể gây nên tình trạng viêm nhiễm, làm tổn hại các cơ quan, khi xâm nhập vào tim có thể gây ra viêm cơ tim, viêm màng ngoài tim, viêm nội tâm mạc, tổn thương van tim hậu thấp… Trong số các loài vi khuẩn thì liên cầu khuẩn (Streptococcus) là loài đặc biệt yêu thích trái tim, là nguyên nhân chủ yếu gây ra thấp tim và viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Thấp tim

  • Thấp tim là nguyên nhân phổ biến gây bệnh van tim, liên quan đến việc nhiễm vi khuẩn gọi là liên cầu khuẩn nhóm A. Đây là tình trạng liên cầu khuẩn nhiễm ở họng, gây viêm họng, sau đó xâm nhập đến tim, gây tổn thương van tim. Có khoảng phân nửa số bệnh nhân đã bị thấp tim sẽ tái phát các đợt thấp tim sau đó.
  • Viêm họng thường xảy ra vào mùa lạnh, mùa mưa, trong đó 30% trường hợp do liên cầu khuẩn nhóm A gây ra (còn lại do virút). Loại viêm họng này khởi phát đột ngột với triệu chứng sốt, đau họng, nuốt đau, không sổ mũi.
  • Khoảng hai đến ba tuần sau viêm họng, bệnh nhân bị viêm khớp, tập trung ở những khớp lớn như đầu gối, khuỷu tay, cổ chân và di chuyển nhanh từ khớp này sang khớp khác. Sau năm đến bảy ngày, khớp hết đau dù không điều trị gì, không để lại di chứng. Sau khi viêm họng, trong cơ thể xuất hiện kháng thể chống lại liên cầu khuẩn. 
  • Vấn đề nguy hiểm nhất của thấp tim là các biến chứng cấp và đặc biệt là hậu quả mạn tính. Trong giai đoạn cấp, thấp tim có thể gây viêm cơ tim cấp, rối loạn nhịp... có thể kèm các triệu chứng khác ở da, khớp, thần kinh; nặng hơn là khiến bệnh nhân tử vong.
  • Về lâu về dài thì gây tổn thương van tim (các lá van dày lên, xơ cứng, vôi hoá; các mép van có thể bị dày, dính) đưa đến bệnh van tim do thấp, thường là hẹp van hai lá (trên 90% trường hợp hẹp van hai lá là do thấp tim), hở van động mạch chủ… Tổn thương van tim do thấp nếu nặng cần phẫu thuật thay van tim nhân tạo.

Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn

  • Nội tâm mạc là lớp mô bao phủ thành trong của các buồng tim và van tim. Khi vi khuẩn, nấm hoặc các vi sinh vật theo dòng máu đến lớp nội tâm mạc này và “làm tổ” ở đây thì sẽ gây viêm nhiễm, tạo ra các sang thương. 
  • Biểu hiện của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn thường là sốt kéo dài, khó thở, yếu cơ, đau ngực, đau khớp… Tổn thương tại van tim thường là loét và sùi, gây biến dạng lá van, tổn thương cấu trúc và chức năng của van tim. Đây là bệnh rất nặng, nếu không phát hiện và điều trị sớm có thể gây ra suy tim, các biến chứng nặng nề, dẫn đến tử vong.
  • Hầu hết các trường hợp bệnh được điều trị với kháng sinh. Ngoài ra, điều trị ngoại khoa được đưa ra trong một số trường hợp cần thiết như suy tim không khống chế được do tổn thương van tim, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trên bệnh nhân có van tim nhân tạo làm van không ổn định, mảnh sùi to có nguy cơ cao gây tắc mạch…
  • Mục đích cơ bản của điều trị ngoại khoa là lấy đi những mảnh sùi hoặc hoại tử mà không thể điều trị nội khoa được, sửa hoặc thay van tim bị tổn thương.
  • Bệnh nhân có nguy cơ cao mắc bệnh cần giữ vệ sinh răng miệng tốt; đến nha sĩ kiểm tra thường xuyên; tránh những thủ thuật xâm lấn không cần thiết như tiêm chích ma tuý, xăm mình; khám bác sĩ ngay khi có vết thương hoặc dấu hiệu nhiễm trùng… Ngoài ra, những bệnh nhân này cần được phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn khi làm thủ thuật hoặc phẫu thuật.
  • Để phòng ngừa, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân sử dụng kháng sinh trước khi được phẫu thuật hoặc được làm các thủ thuật (phẫu thuật trên mô nhiễm trùng, đường tiết niệu, tiêu hoá, hô hấp, can thiệp tim mạch như nong van, thông tim… hoặc những thủ thuật có nguy cơ đưa vi khuẩn vào dòng máu) và trường hợp thường gặp nhất là điều trị răng (nhổ răng, lấy cao răng…)

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây