Các xét nghiệm viêm gan B cho người có nguy cơ cao
1. Tầm quan trọng của việc xét nghiệm sàng lọc viêm gan B
Đa số người mắc viêm gan B không có triệu chứng đồng nghĩa với tỷ lệ người nhiễm viêm gan B không biết bản thân bị bệnh là rất nhiều. Đó là nguyên nhân khiến bệnh lây truyền trong cộng đồng. Vì vậy, người khỏe mạnh và người có nguy cơ mắc bệnh đều nên làm xét nghiệm viêm gan B, mục đích là để:
- Chẩn đoán viêm gan B cấp và mạn tính để theo dõi và điều trị bệnh kịp thời
- Kiểm tra xem cơ thể đã có miễn dịch bảo vệ chưa để tiêm vắc xin dự phòng
- Giảm thiểu việc tiêm phòng vacxin không cần thiết. Nếu xét nghiệm sàng lọc xác định người bệnh đã mắc viêm gan B, đã có miễn dịch bảo vệ (do đã tiêm phòng hoặc do mắc viêm gan B trước đây) thì không cần tiêm phòng nữa
- Giúp người nhiễm bệnh đưa ra các biện pháp bảo vệ sức khỏe kịp thời, tránh tốn kém về kinh tế, sức khỏe giảm sút hoặc không đáp ứng điều trị
2. Các xét nghiệm chẩn đoán viêm gan B
2.1 HBsAg (kháng nguyên bề mặt)
Xét nghiệm HBsAg là xét nghiệm quan trọng nhất, mang tính chất quyết định trong chẩn đoán viêm gan B. Nó vừa là xét nghiệm định tính vừa là xét nghiệm định lượng:
- Xét nghiệm định tính: Là xét nghiệm cho biết bệnh nhân có bị viêm gan B hay không
- Xét nghiệm định lượng cho biết nồng độ virus (kháng nguyên) nhiều hay ít, có giá trị để theo dõi điều trị
Kết quả xét nghiệm được kết luận như sau:
- Xét nghiệm HBsAg (-) chứng tỏ không bị nhiễm virus. Tuy nhiên, rất có thể trong giai đoạn này virus mới xâm nhập, cơ thể chưa kịp tạo kháng thể nên mới có kết quả âm tính. Nếu người khám nghi ngờ nguy cơ bị lây nhiễm là cao thì nên đi xét nghiệm lại sau 6 tháng. Khi đó kết quả sẽ phản ánh chính xác tình trạng bệnh.
- Xét nghiệm HBsAg (+) trong lần xét nghiệm đầu tiên thì chứng tỏ có virus tồn tại trong cơ thể và rất có thể đang trong giai đoạn tiến triển thành mãn tính.
- Xét nghiệm HBsAg (+) lần 2 cách lần 1 khoảng trên 6 tháng, nghĩa là bệnh nhân đã mắc viêm gan B mạn.
Tuy nhiên, do phần lớn bệnh nhân viêm gan B tại Việt Nam nhiễm virus từ lúc sinh hoặc khi còn nhỏ nên xét nghiệm HBsAg (+) thường có nghĩa là đã mắc viêm gan B mạn. Người có HBsAg (+) cần được tư vấn và khám định kỳ để giảm nguy cơ bệnh tiến triển thành viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan.
2.2 Anti-HBs
Xét nghiệm anti-HBs: Anti-HBs được tạo ra sau tiêm phòng hoặc do trước đây đã mắc virus viêm gan B và tự hồi phục. Vì vậy, xét nghiệm này dùng để kiểm tra xem cơ thể đã sản xuất ra miễn dịch bảo vệ hay chưa.
Kết quả xét nghiệm HBsAb (+) cho thấy người lành đã đáp ứng với vacxin sau khi được tiêm chủng hoặc là người bị nhiễm virus viêm gan B đã bình phục sau khi nhiễm virus cấp tính. Kết quả HbsAg (-) có nghĩa là hiện tại người dùng chưa đáp ứng vacxin hoặc cơ thể chưa bao giờ tiếp xúc với virus. Thông thường, nồng độ Anti-HBs > 10 mUI/ml được coi là có tác dụng bảo vệ.
2.3 Các xét nghiệm viêm gan B khác
- Total anti-HBc: Thực chất total anti-HBc hay anti-HBc, anti-hBc IgG là một xét nghiệm. Anti-HBc là kháng thể kháng lõi virus viêm gan B, chúng xuất hiện rất sớm và tồn tại suốt đời trong cơ thể. Vì vậy xét nghiệm này dùng để xác định bệnh nhân đã bị phơi nhiễm virus viêm gan B hay chưa. Xét nghiệm này rất hữu ích trong việc sàng lọc khi truyền máu nhưng không xác định được người hiện đang mắc viêm gan B mạn hay đã hồi phục và có miễn dịch bảo vệ với viêm gan B.
- IgM anti-HBc: Anti-HBc IgM là kháng thể xuất hiện trong giai đoạn viêm gan B cấp hoặc đợt cấp của viêm gan B mạn tính. Vì vậy, xét nghiệm tìm IgM anti-HBc là xét nghiệm xác định tình trạng nhiễm virus viêm gan B. Chỉ làm xét nghiệm IgM anti-HBc nếu nghi ngờ bệnh nhân mới nhiễm virus viêm gan B gần đây (do kim đâm khi tiêm hoặc do quan hệ tình dục không bảo vệ với người mắc viêm gan B).
- HBeAg: HBeAg là một kháng nguyên xuất hiện khi virus đang nhân lên và có khả năng lây lan mạnh. Nếu kết quả cho thấy HBeAg (+) là một chỉ tiêu chứng tỏ virus đang hoạt động còn HBeAg (-) có 2 khả năng là virus không hoạt động hoặc virus đột biến. Để biết virus có đột biến hay không thì cần làm thêm xét nghiệm HBV DNA và HBV genotyping.
- Anti-HBe: Anti-HBe là kháng thể kháng lại HBeAg. Nếu xét nghiệm Anti-HBe (+) chứng tỏ bệnh nhân có miễn dịch một phần. Xét nghiệm Anti-HBe (-) chứng tỏ cơ thể chưa có miễn dịch với virus viêm gan B.
3. Những ai cần xét nghiệm sàng lọc viêm gan B ?
Do Việt nam có tỷ lệ mắc viêm gan B cao, vì vậy mọi người đều nên xét nghiệm ít nhất một lần để biết mình có mắc viêm gan B hoặc đã có miễn dịch bảo vệ chưa. Các đối tượng chắc chắn phải làm xét nghiệm sàng lọc bao gồm phụ nữ có thai sàng lọc sớm để giảm tối đa nguy cơ lây truyền bệnh cho con, người nhiễm HIV vì họ có hệ miễn dịch kém, nhân viên y tế hoặc các ngành nghề khác thường xuyên tiếp xúc với vật sắc nhọn,...
4. Các xét nghiệm được tiến hành lần lượt như thế nào?
Trước hết người đến khám đều được làm xét nghiệm HBsAg.
Nếu HBsAg (-) chứng tỏ bệnh nhân không bị viêm gan B. Để chắc chắn hơn thì làm thêm xét nghiệm Anti-HBc. Và thực hiện thêm xét nghiệm anti-HBs để biết bệnh nhân đã có miễn dịch với viêm gan B hay chưa để tiêm phòng vacxin:
- Anti-HBs (+) chứng tỏ bệnh nhân có miễn dịch với viêm gan B, không cần tiêm vaccine
- Anti-HBs (-) chứng tỏ bệnh nhân chưa có miễn dịch với viêm gan B, và cần được tiêm vaccine.
Nếu HBsAg (+): Người bệnh được hẹn xét nghiệm lại lần nữa, nếu kết quả vẫn dương tính thì được yêu cầu làm các xét nghiệm sinh hoá, huyết học để đánh giá chức năng gan. Bệnh nhân cũng cần làm các xét nghiệm sinh học phân tử như HBV-DNA, HBV genotyping. Các định lượng HBsAg, Anti-HBs (HBsAb), HBeAg, Anti-HBe (HBeAb), Anti-HBc, Anti-HBcIgM. Định lượng HBsAg để theo dõi điều trị. Xét nghiệm Anti-HBs có thể không cần làm nếu nồng độ HBsAg cao.
Tiếp theo, người bệnh cần làm thêm xét nghiệm HBeAg và Anti-HBe để phân tích 4 khả năng virus phát triển trong cơ thể để xác định chính xác giai đoạn bệnh và có biện pháp điều trị kịp thời:
- HBeAg (+) và Anti-HBe (-): Virus đang nhân bản, viêm gan tiến triển, lây lan mạnh.
- HBeAg (-) và Anti-HBe (+): Virus ngừng nhân bản, có miễn dịch một phần, khả năng lây lan giảm.
- HBeAg (+) và Anti-HBe (+): Kháng nguyên và kháng thể cân bằng hoặc do phức hợp miễn dịch.
- HBeAg (-) và Anti-HBe (-): Biến thể Pre-C hoặc giai đoạn cửa sổ của quá trình chuyển đảo huyết thanh.
Cuối cùng là thực hiện xét nghiệm Anti-HBc và Anti-HBc IgM để xác định bệnh nhân viêm gan cấp hay mạn tính.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Xuất huyết tiêu hóa dần dần sẽ gây thiếu máu, nôn ra máu hoặc phân có lẫn máu. Chảy máu trong nghiêm trọng thậm chí còn có thể đe dọa đến tính mạng và cần can thiệp phẫu thuật.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.





