Biến chứng có thể gặp khi phẫu thuật nội soi cắt bỏ u tuyến yên qua đường xương bướm
1. Rò rỉ dịch não tủy
U tuyến yên là khối u ngoài màng cứng và phát triển bên ngoài vùng giới hạn của dịch não tủy. Ngay cả với bệnh nhân có khối u tuyến yên xâm lấn lớn, khối u cũng thường không xâm phạm màng nhện và mở rộng vào khoang dưới nhện. Chính vì vậy, khi phẫu thuật bóc tách khối u, tính liên tục của màng nhện bị phá vỡ và hình thành lỗ rò dịch não tủy.
Biến chứng này có thể xảy ra không liên tục và chỉ với một số hoạt động cụ thể của người bệnh, đồng thời còn tùy thuộc là vị trí của khối u. Các u tuyến yên ở sát nền hố yên là vị trí phổ biến nhất có thể phát sinh lỗ rò dịch não tủy. Ngoài ra, việc mổ u tuyến yên lớn cũng có thể tạo ra sự dư thừa trong màng nhện, làm màng nhện bị thoát vị và chảy dịch não tủy vào trong khoang mũi.
Hơn nữa, lỗ rò của dịch não tủy cũng có thể hình thành do hậu quả của sự mất toàn vẹn thành xoang bướm. Hậu quả này còn ảnh hưởng trực tiếp biểu mô khứu giác của khoang mũi, gây mất khứu giác thoáng qua hay vĩnh viễn.
Chính vì thế, bất kể nguyên nhân gây ra rò rỉ dịch não tủy là gì, biến chứng này cũng cần can thiệp sửa chữa sớm. Không chỉ việc rò rỉ dịch làm ảnh hưởng cơ quan khác mà việc mất dịch có thể làm giảm áp lực dịch não tủy, tạo điều kiện cho tràn khí màng não, viêm não - màng não có thể xảy ra.
2. Chảy máu cam
Nếu không thực hiện hiện thủ thuật co mạch kỹ lưỡng trước khi can thiệp hoặc các sang chấn gây ra trong quá trình can thiệp có thể làm tổn thương các mạch máu tinh vi trong vùng phẫu trường vốn dĩ rất hẹp và chật chội này.
Các động mạch thường bị tổn thương là các mao mạch trên niêm mạc mũi hay có thể bao gồm cả động mạch xoang bướm và động mạch cảnh trong đoạn vào nội sọ. Chính vì vậy, khi mở xoang bướm, điều quan trọng là phải thật cẩn trọng nhằm bảo tồn động mạch xoang bướm cũng như có liên quan đến cuống mạch máu ở vách ngăn mũi. Đồng thời, việc này cũng dự phòng cho biến chứng rò rỉ dịch não tủy về sau.
3. Mất thị giác
Mất thị giác có thể là hậu quả của các sang chấn vật lý đến các dây thần kinh thị giác hoặc vùng giao thoa thị giác hoặc do chấn thương trực tiếp cũng như lực kéo cực độ.
Điều này có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào của quá trình phẫu thuật nội soi u tuyến yên qua đường xương bướm, nhất là khi bị lệch hướng tiếp cận vào xoang bướm.
Ngoài ra, lực tác động quá mạnh trong khi cấu trúc xương ngăn các xoang với các cấu trúc lân cận ở vị trí này lại mỏng và yếu, dẫn đến gián tiếp biến dạng và chèn ép dây thần kinh thị giác, sau đó có thể dẫn đến tổn thương do thiếu máu cục bộ và mất chức năng vĩnh viễn. Tuy nhiên, nếu biến chứng mất thị lực một bên mắt liên quan đến nội soi mổ u tuyến yên qua đường xương bướm được giải nén kịp thời và sử dụng steroid liều cao, người bệnh vẫn có thể phục hồi được thị lực hoàn toàn.
Mặt khác, còn có các nguyên nhân không phổ biến của mất thị giác sau phẫu thuật tuyến yên bao gồm co thắt mạch não và chấn thương do lực kéo, đặc biệt là trong phẫu thuật chỉnh sửa lặp lại. Cuối cùng, hội chứng hố yên rỗng với hiện tượng sụt lún não bộ cũng đã được ghi nhận là nguyên nhân của sự suy giảm thị giác dần dần sau phẫu thuật.
4. Chấn thương động mạch cảnh trong
Mặc dù các nghiên cứu đã chỉ ra rằng động mạch cảnh trong đoạn đi nội sọ có kích thước 3mm và cách xa tuyến yên 7mm nhưng đôi khi nó vẫn có thể nhô ra qua thành xoang hang và tiếp giáp với tuyến yên.
Như vậy, nếu không có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về các đặc điểm giải phẫu trước phẫu thuật, động mạch cảnh trong rất có nguy cơ bị chấn thương.
Bên cạnh đó, để loại trừ chấn thương động mạch cảnh trong tiềm ẩn, tại một số trung tâm, người bệnh có thể được theo dõi bằng chụp động mạch não sau phẫu thuật. Từ đó, phẫu thuật viên có thể phát hiện sớm tình trạng xuất huyết não cũng như tắc hoặc hẹp và gây ra nhồi máu não để can thiệp kịp thời.
5. Bệnh đái tháo nhạt mới khởi phát
Vùng cuống tuyến yên có chức năng bài tiết hormone chuyển hóa nước và điện giải trong cơ thể. Chính vì thế, những can thiệp vào vùng này có nguy cơ dẫn đến biến chứng đái tháo nhạt mới khởi phát, thường xảy ra thoáng qua trong khoảng 4% đến 18% các ca phẫu thuật.
Cơ chế sinh lý của biến chứng này là do lực co kéo vào cuống hoặc tổn thương thùy sau trực tiếp làm hỏng các sợi trục dưới đồi, dẫn đến thiếu hụt trong sản xuất và bài tiết hormone chống bài niệu (ADH). Hậu quả là người bệnh bị khát nước dữ dội trong khi thể tích bài tiết nước tiểu rất nhiều. Bệnh đái tháo nhạt nếu không được phát hiện và tích cực điều chỉnh, bệnh nhân có thể bị nguy kịch tính mạng do mất nước và rối loạn điện giải.
6. Hội chứng bài tiết hormon chống bài niệu không phù hợp
Cơ chế của biến chứng này cũng tương tự như đái tháo nhạt mới khởi phát khi tác động vào thùy sau, cuống tuyến yên và vùng dưới đồi trong quá trình nội soi mổ u tuyến yên qua đường xương bướm.
Tuy nhiên, trong biến chứng này, nồng độ ADH tiết ra lại quá cao, làm tăng giữ nước trong cơ thể và hạ natri máu. Hạ natri máu thường xảy ra muộn, xuất hiện vào khoảng ngày hậu phẫu thứ 7. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của lượng ADH, hạ natri máu có thể không có triệu chứng hoặc xuất hiện dấu hiệu lâm sàng với tri giác giảm sút, người bệnh lừ đừ, đau đầu, buồn nôn hoặc nôn khi natri huyết thanh giảm xuống dưới 130 mEq / L.
Trái lại với đái tháo nhạt, thay vì bổ sung thêm natri ưu trương, việc điều trị bệnh nhân mắc phải hội chứng bài tiết hormon chống bài niệu không phù hợp cơ bản là tiết chế nước.
7. Suy tuyến yên mới khởi phát hoặc nặng hơn
Suy tuyến yên trước phẫu thuật có cơ chế là do khối adenoma làm ảnh hưởng đến trục hạ đồi - tuyến yên. Theo trình tự dự đoán, trục somatotropic với các hormone tăng trưởng sẽ dễ bị tổn thương nhất, tiếp theo là tuyến sinh dục với hormone kích thích nang trứng và hormone tuyến giáp và cuối cùng là trục thượng thận với hormone từ vỏ thượng thận. Tùy thuộc vào kích thước và tốc độ tăng trưởng của adenoma, tình trạng suy tuyến yên có thể hồi phục phần nào hoặc vĩnh viễn và người bệnh cần bổ sung nội tiết tố ngoại sinh. Do đó, trong điều kiện lý tưởng, phẫu thuật u tuyến yên được tiến hành với mục tiêu giải phóng chèn ép và khôi phục lại chức năng tuyến yên.
Quá trình phẫu thuật nội soi u tuyến yên qua đường xương bướm vẫn có nguy cơ gây suy tuyến yên mới khởi phát hoặc nặng hơn do những sang chấn trong các thao tác. Chính vì thế, việc thăm dò kỹ lưỡng các cấu trúc giải phẫu phức tạp trong vùng phẫu trường này luôn được nhấn mạnh trước từng ca mổ, đối với từng bệnh nhân với các đặc điểm hoàn toàn riêng biệt.
Tóm lại, các biến chứng trên là những bất lợi được ghi nhận có thể gặp phải sau quá trình phẫu thuật nội soi u tuyến yên qua đường xương bướm. Không chỉ vậy, người bệnh cũng có thể có các tai biến khác liên quan đến cuộc mổ như các can thiệp ngoại khoa thông thường. Chính vì vậy, một kiến thức toàn diện về sinh lý tuyến yên và sự thay đổi bình thường trong giải phẫu, việc khảo sát kỹ lưỡng đặc điểm bệnh nhân trước phẫu thuật cùng với thao tác cẩn trọng, giàu kinh nghiệm là một trong những yếu tố góp phần vào sự thành công của cuộc mổ cũng như sự an toàn cho người bệnh.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 990 lượt xem
Rất nhiều thai phụ băn khoăn rằng, không biết sử dụng thuốc trị bệnh về tuyến giáp trong thời gian đang mang thai có an toàn không? Để giải đáp thắc mắc trên, mời các bạn cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!
Ferritin là một loại protein dự trữ sắt và giải phóng sắt khi cơ thể cần. Ferritin tập trung chủ yếu trong các tế bào và chỉ có một lượng rất nhỏ lưu thông trong máu.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.





