Bệnh thận đái tháo đường: Những lời khuyên hữu ích từ chuyên gia - Bệnh viện Việt Đức
BSCKII Nguyễn Mạnh Tưởng – Phó Trưởng khoa Thận lọc máu, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: Bệnh thận đái tháo đường là một trong các biến chứng mạn tính gây tổn thương mạch máu nhỏ của đái tháo đường, bên cạnh biến chứng mắt, và biến chứng thần kinh ngoại biên và thần kinh thực vật. Bệnh thận do đái tháo đường cũng là nguyên nhân hàng đầu gây suy thận mạn giai đoạn cuối tại các nước như Mỹ, Châu Âu và ngay cả các nước Châu Á, như Đài Loan, Nhật, với tỷ lệ thay đổi từ 24-45% bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối.
Tổn thương thận do đái tháo đường nằm trong nhóm biến chứng mạch máu nhỏ của đái tháo đường. Dưới đây là những lời khuyên của TS.BS Nguyễn Mạnh Tưởng – Phó Trưởng khoa Thận lọc máu Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức:
Dấu hiệu nhận biết:
- Bệnh nhân có tiền sử bệnh đái tháo đường
- Có các biểu hiện bệnh thận như phù, thiếu máu, tiểu bọt…
- Qua xét nghiệm và khám sức khoẻ định kỳ.
Xét nghiệm:
- Tổng phân tích nước tiểu: đường niệu, protein niệu, tỷ lệ protein/ creatinine niệu, tỷ lệ albumine/creatinine, cặn lắng nước tiểu
- Xét nghiệm máu: Ure tăng, creatinin tăng, HbA1C, mỡ máu…
- Chẩn đoán hình ảnh: Siêu âm, Xquang, điện tim.
Điều trị:
- Kiểm soát tốt tình trạng tăng đường huyết, HbA1C khoảng7%.
- Giảm Protein niệu đến <0,5g/24h.
- Giảm huyết áp đạt mục tiêu < 130/80mmH.
- Dùng thuốc ức chế men chuyển hoặc ức chế thụ thể để giảm đạm niệu và bảo tồn chức năng thận.
- Theo dõi và điều trị đồng thời các biến chứng mạn tính khác.
- Kiểm soát các biến chứng tim mạch: tăng huyết áp, hạ lipid máu.
- Bỏ hút thuốc lá.
Việc phối hợp kiểm soát tối ưu tất cả các yếu tố trên (điều trị can thiệp đa yếu tố) không chỉ giúp điểu trị bệnh thận đái tháo đường, còn giảm thiểu các biến chứng mạch máu nhỏ và lớn khác ở bệnh nhân đái tháo đường.
Phòng ngừa và tái khám:
- Tầm soát bệnh thận đái tháo đường ở mọi bệnh nhân đái tháo đường type 1 sau 5 năm chẩn đoán đái tháo đường, và vào ngày chẩn đoán với đái tháo đường type2.
- Xét nghiệm tầm soát bệnh thận do đái tháo đường bao gồm: tỷ lệ albumine/creatinine nước tiểu với mẫu nước tiểu bất kỳ và creatinine huyết thanh để ước đoán GFR.
- Phối hợp đa chuyên khoa trong chẩn đoán, điều trị và theo dõi người bệnh: chuyên khoa thận và chuyên khoa nội tiết, tim mạch, thần kinh…
Nguồn: Bệnh viện Việt Đức
Cả đái tháo đường type 1 và type 2 đều có đặc trưng là lượng đường trong máu cao nhưng hai loại đái tháo đường này là do nguyên nhân khác nhau gây ra.
Vẫn còn nhiều điều chúng ta chưa biết về lợi ích của châm cứu trong điều trị các triệu chứng của bệnh đái tháo đường. Tuy nhiên, một số nghiên cứu mới đây đã xác nhận rằng châm cứu là một phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả.
Ai cũng biết rằng ngủ đủ giấc mỗi ngày là điều rất quan trọng để có sức khỏe tốt nhưng không phải lúc nào điều này cũng đơn giản, đặc biệt là khi mắc các bệnh mãn tính như tiểu đường type 2.
Thông thường, việc mắc một bệnh lý nào đó có thể làm tăng nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe khác, chẳng hạn như mắc đái tháo đường làm tăng nguy cơ tiểu hoặc đại tiện không tự chủ - tình trạng không thể kiểm soát được việc tiểu tiện hay đại tiện. Tiểu không tự chủ cũng có thể là một triệu chứng của bàng quang tăng hoạt.
Bệnh đái tháo đường có thể gây ra các vấn đề về lâu dài trên khắp cơ thể, đặc biệt là khi không kiểm soát tốt lượng đường trong máu và lượng đường trong máu liên tục ở mức cao trong nhiều năm. Đường trong máu cao có thể gây ra bệnh thần kinh đái tháo đường – tình trạng tổn thương các dây thần kinh truyền tín hiệu từ bàn tay và bàn chân (bệnh thần kinh ngoại biên).





