Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập381
  • Máy chủ tìm kiếm96
  • Khách viếng thăm285
  • Hôm nay61,104
  • Tháng hiện tại994,999
  • Tổng lượt truy cập42,848,282

Bệnh tăng huyết áp có những giai đoạn nào? - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

1. Khái niệm

  • Bệnh tăng huyết áp còn gọi là tăng huyết áp nguyên phát, biểu hiện lâm sàng chủ yếu là huyết áp động mạch tăng cao (có thể là tăng huyết áp tâm thu, tăng huyết áp tâm trương hoặc tăng cả hai); kèm theo bệnh nhân thấy đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi; thời kỳ muộn sẽ có biểu hiện lâm sàng tổn thương thận, tim và não…
  • Bệnh nhân sau khi được khám lâm sàng 2 -3 lần khác nhau, mỗi lần khám được đo huyết áp ít nhất 2 lần, nghỉ ngơi trước khi đo 5 phút mà phát hiện có trị số huyết áp ≥ 140/90mmHg thì được chẩn đoán là tăng huyết áp.
  • Tăng huyết áp phân thành hai loại là tăng huyết áp nguyên phát (bệnh tăng huyết áp) và tăng huyết áp thứ phát (do một nguyên nhân bệnh nào đó gây nên tăng huyết áp, còn gọi là tăng huyết áp triệu chứng). Tăng huyết áp thứ phát chiếm tỷ lệ khoảng 10% trong số bệnh nhân có tăng huyết áp.
  • Tỷ lệ phát bệnh cao, có quan hệ chặt chẽ đến tuổi, nghề nghiệp, gia tộc. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ tăng huyết áp chiếm 8 – 18% dân số thế giới. Ở Việt Nam, theo điều tra của Viện Tim mạch (2008), tỷ lệ tăng huyết áp là 25,1% ở những người ≥ 25 tuổi.

2. Chẩn đoán

2.1. Lâm sàng

  • Giai đoạn đầu của bệnh tăng huyết áp thì thường không thấy biểu hiện đặc biệt. Khi bệnh nhân phát hiện được tăng huyết áp thì thường thấy biểu hiện: đau đầu, chóng mặt, hoa mắt, hay quên, ù tai, mệt mỏi, hồi hộp trống ngực, đau mỏi cổ gáy…
  • Giai đoạn sau của bệnh tăng huyết áp sẽ gây tổn thương cơ quan đích như tim, não, thận và các triệu trứng liên quan kèm theo.
  • Giai đoạn đầu, ngoài việc đo thấy huyết áp tăng cao, đa số bệnh nhân không thấy biểu hiện gì; một số bệnh nhân khi nghe tim có thể thấy tiếng T2 đanh, tiếng thổi tâm thu nhẹ ở mỏm.
  • Khi tăng huyết áp kéo dài, gây tổn thương cơ quan đích như tim, thận, não… thì sẽ thấy các triệu chứng liên quan kèm theo.

2.2. Cận lâm sàng

X quang: quai động mạch chủ vồng, cung tim trái giãn.

Điện tim: dày thất trái, thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim.

Soi đáy mắt: tăng huyết áp giai đoạn 2 thấy động mạch đáy mắt ngoằn nghèo hoặc hẹp cục bộ; giai đoạn 3 thấy biểu hiện vữa xơ động mạch nhỏ hoặc xuất huyết võng mạc, phù gai thị.

Xét nghiệm:

  • Nước tiểu: giai đoạn đầu không thấy rối loạn đặc biệt; khi có tổn thương thận sẽ thấy protein niệu, trụ hình…
  • Sinh hóa máu: khi có rối loạn chức năng thận sẽ thấy urê, creatinin tăng cao.

3. Phân giai đoạn tăng huyết áp

  • Giai đoạn 1: tăng huyết áp, không có tổn thương cơ quan đích.
  • Giai đoạn 2: tăng huyết áp, tổn thương cơ quan đích như dày thất trái phát hiện được trên lâm sàng, X quang, siêu âm; hẹp toàn thể hay khu trú động mạch võng mạc; protein niệu (±), creatinin máu tăng…
  • Giai đoạn 3: tăng huyết áp kèm theo đột quỵ não, suy tim, tổn thương đáy mắt (chảy máu võng mạc, xuất tiết, phù gai thị).

Một số biểu hiện thường thấy ở giai đoạn 3 nhưng không đặc hiệu cho bệnh tăng huyết áp: cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim, nhũn não, phồng tách động mạch, tắc mạch, suy thận.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây