Bệnh lý tim mạch: Ghi nhận nhiều tiến bộ trong điều trị - Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Bệnh động mạch vành
- Can thiệp ĐMV qua da (nong và/hoặc đặt stent) hiện đã không còn là kỹ thuật mới vì đã được thực hiện thường quy, góp phần cải thiện đáng kể tiên lượng cho những bệnh nhân bị bệnh mạch vành.
- Hiện nay đã có nhiều tiến bộ, cải tiến đáng kể về kỹ thuật can thiệp với những thiết bị ngày một hiện đại, an toàn và hiệu quả hơn như: hút huyết khối, khoan phá mảng xơ vữa (rotablator),... giúp giải quyết những trường hợp tổn thương ĐMV khó, phức tạp.
- Đặc biệt, trong một số trường hợp còn chưa thể đánh giá thật chính xác mức độ hẹp của ĐMV thì kỹ thuật siêu âm trong lòng mạch (IVUS) và đo lưu lượng dự trữ vành (FFR) đã thật sự giúp ích cho các thầy thuốc để xác định được đúng mức độ hẹp của ĐMV.
- Việc phát minh cách mổ với tim vẫn đập làm giảm thời gian hậu phẫu, tránh biến chứng liên quan việc chạy máy tim phổi nhân tạo và kẹp động mạch chủ.
- Bên cạnh đó, mổ với kỹ thuật xâm lấn tối thiểu (mini invasive) và mổ bằng robot là những hướng mới có nhiều hứa hẹn trong phẫu thuật ĐMV.
Bệnh van tim
- Một trong số tiến bộ nổi bật nhất phải kể đến trong bệnh lý van tim là kỹ thuật can thiệp qua da.
- Nong van hai lá bằng bóng Inoue qua da đã trở thành phương pháp điều trị được lựa chọn hàng đầu cho bệnh nhân bị hẹp van hai lá (HHL).
- Bằng quả bóng đặc biệt luồn từ tĩnh mạch đùi phải lên nhĩ phải xuyên qua vách liên nhĩ để sang nhĩ trái và đưa tới vị trí của van hai lá đã giúp nong tách rộng hai mép van bị hẹp ở bệnh nhân HHL khít do thấp.
Bệnh tim bẩm sinh và tim cấu trúc
- Bệnh tim bẩm sinh vẫn rất thường gặp trong đời sống xã hội, tỷ lệ mắc trung bình (theo thống kê ở nước ngoài) khoảng 0,4% số trẻ sinh ra.
- Bệnh thường để lại gánh nặng về cả thể chất và tinh thần cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. T
- Phương pháp đóng thông liên nhĩ, thông liên thất, ống động mạch,... bằng dụng cụ qua đường ống thông đã giúp cho bệnh nhân tránh được cuộc mổ tim hở, thủ thuật tiến hành nhanh chóng, không để lại vết sẹo nào trên ngực của người bệnh.
- Đối với bệnh cơ tim phì đại tắc nghẽn có thể làm mỏng vách liên thất bằng cách tiêm cồn vào nhánh động mạch vành nuôi vách liên thất một cách chọn lọc qua đường ống thông.
Bệnh lý rối loạn nhịp tim
- Phương pháp thăm dò điện sinh lý trong buồng tim qua đường ống thông đã cho phép xác định bản chất của các bệnh lý rối loạn nhịp tim cũng như có thể định vị được những đường dẫn truyền bất thường và những ổ ngoại vị
- Phương pháp này hiện nay đang được áp dụng khá rộng rãi để điều trị nhiều bệnh lý rối loạn nhịp tim như cơn tim nhanh trên thất, ngoại tâm thu thất,...
- Phương pháp dựng hình điện học buồng tim ba chiều đã được triển khai giúp hướng dẫn tốt cho việc điều trị nhiều loại rối loạn nhịp tim phức tạp như: rung nhĩ, nhịp nhanh thất,...
- Cấy máy phá rung tự động trong buồng tim (ICD) là biện pháp hữu hiệu ngăn ngừa được đột tử ở những đối tượng có nguy cơ rung thất hoặc nhịp nhanh thất ác tính.
- Cấy máy tạo nhịp tái đồng bộ để điều trị suy tim với điện cực tạo nhịp tại các buồng tim đã góp phần kéo dài tuổi thọ cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho các bệnh nhân suy tim nặng cũng đã được thực hiện khá thường quy ở Việt Nam.
Nguồn: Bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Nhịp tim lúc nghỉ ngơi trung bình thường dao động từ 60 đến 80 bpm, tuy nhiên, một số vận động viên có nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp đến 30-40 bpm. Nếu bạn là vận động viên hoặc là người thường xuyên tập thể dục, nhịp tim lúc nghỉ ngơi thấp thường không là vấn đề, thậm chí còn là biểu hiện cho trạng thái sức khỏe tốt. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy nhịp tim thấp đi kèm với các triệu chứng khác, như mệt mỏi hoặc chóng mặt.
Nhịp tim là số lần tim đập trong một phút. Nhịp tim khi nghỉ ngơi được xác định chính xác nhất khi ngồi hoặc nằm và ở trạng thái bình tĩnh. Nhịp tim khi nghỉ ngơi trung bình dao động trong khoảng 60 đến 80 nhịp mỗi phút. Vận động viên các môn thể thao sức bền thường có nhịp tim khi nghỉ ngơi thấp hơn so với người bình thường. Một số vận động viên có nhịp tim khi nghỉ ngơi chỉ 30 đến 40 nhịp mỗi phút.
Viêm nội tâm mạc là tình trạng viêm lớp màng bên trong tim. Tình trạng này thường do vi khuẩn gây ra. Khi nội tâm mạc bị viêm do nhiễm trùng thì được gọi là viêm nội tâm mạc nhiễm trùng. Viêm nội tâm mạc chủ yếu xảy ra ở những người có vấn đề về tim và rất hiếm gặp ở những người có tim khỏe mạnh.
Dập cơ tim là tình trạng cơ tim bị tổn thương sau chấn thương ngực kín nghiêm trọng. Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn giao thông, rơi từ độ cao lớn và ép ngực trong quá trình hồi sức tim phổi (CPR).
Cholesterol có thể được kiểm soát bằng cách thay đổi lối sống hoặc sử dụng đến các loại thuốc hạ cholesterol như statin nếu bạn có nguy cơ cao mắc bệnh tim mạch.





