Bệnh lao trẻ em AFB âm tính
1. Đặc điểm bệnh lao ở trẻ em
Đa số các ca bệnh xảy ra ở trẻ nhỏ dưới 5 tuổi và đa số các ca xảy ra trong vòng 2 năm sau khi phơi nhiễm với vi khuẩn lao.
Lao ở trẻ em vẫn chủ yếu là lao phổi. Nhưng lao ngoài phổi cũng rất phổ biến và thay đổi theo tuổi.
Sau khi nhiễm lao, tỷ lệ phát triển thành bệnh ở trẻ càng nhỏ tuổi thì càng cao và tỷ lệ các thể lao nặng cũng nhiều hơn. Lao kê và lao màng não là 2 thể lao nặng rất hay gặp ở trẻ nhỏ. Trong khi trẻ trên 2 tuổi thì tỷ lệ này giảm đi còn rất thấp. Vì vậy khi nghi ngờ lao ở trẻ dưới 2 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 1 tuổi, tìm BK trong dịch dạ dày và trong dịch não tủy là 2 xét nghiệm rất cần thiết.
2. Chẩn đoán lao ở trẻ nhỏ
2.1 Khuyến cáo của WHO năm 2012 về tiếp cận chẩn đoán lao ở trẻ nhỏ
Gồm 6 bước:
Bước 1: Khai thác bệnh sử chi tiết: bệnh sử phải khai thác được tiền sử tiếp xúc và các triệu chứng nghi ngờ
- Tiền sử tiếp xúc: những người tiếp xúc với trẻ bao gồm người trong gia đình, hàng xóm có tiếp xúc với trẻ, những trẻ khác, bạn bè ở trường học, thầy cô giáo... có ai bị lao, hoặc ho kéo dài, hoặc bệnh phổi mạn tính. Nếu có cần khai thác kỹ bệnh của người đó, chụp x-quang phổi và xét nghiệm AFB đờm. Thời gian tiếp xúc cũng rất quan trọng. Trẻ thường phát triển bệnh lao trong vòng 2 năm sau khi tiếp xúc và 90% số đó trong năm đầu tiên.
Bước 2: Khám lâm sàng
- Quan trọng nhất là đánh giá được sự phát triển thể chất, tình trạng suy dinh dưỡng và các triệu chứng của bệnh tại phổi cũng như ngoài phổi.
- Trẻ bị bệnh lao thường có dấu hiệu kém ăn, kém chơi, chậm hoặc không tăng cân. Nếu tình trạng suy dinh dưỡng nặng hoặc kéo dài là một yếu tố hữu ích gợi ý chẩn đoán bệnh lao bởi suy dinh dưỡng làm tăng nguy cơ bị lao và bị mắc lao sẽ tạo điều kiện gây suy dinh dưỡng.
- Tùy thể lao mà các biểu hiện lâm sàng sẽ thay đổi. Các triệu chứng thường gặp bao gồm:
- Ho, đặc biệt ho dai dẳng và không cải thiện với điều trị
- Sụt cân hoặc không tăng cân
- Sốt hoặc đổ mồ hôi đêm
- Mệt mỏi, kém chơi hoặc kém hoạt động.
Đặc biệt nếu các triệu chứng kéo dài trên 2 tuần mà không cải thiện với các điều trị thường quy (kháng sinh cho trẻ ho, kháng virus cho trẻ sốt hoặc thay đổi chế độ dinh dưỡng cho trẻ suy dinh dưỡng)
Bước 3: Test mantoux
- Test Mantoux
- Cách làm: tiêm 0,1 ml dung dịch có 10 đơn vị PPD (Purified protein Derivative) vào trong da mặt trước cẳng tay tạo nên cục sần trên da từ 5-6mm đường kính
- Đọc kết quả: sau 72h
Các trường hợp dương tính giả và âm tính giả:
Phản ứng Mantoux dương tính là một yếu tố góp phần chẩn đoán bệnh lao, nhưng không có nghĩa là trẻ bị bệnh. Tuy nhiên trường hợp phản ứng dương tính mạnh, có cả bọng nước tại chỗ tiêm thì là một gợi ý quan trọng nghĩ tới trẻ bị lao.
Bước 4: Tìm vi khuẩn lao trong các bệnh phẩm
- Đây là yếu tố quyết định chẩn đoán lao. Nhưng tỷ lệ tìm thấy vi khuẩn rất thấp nên khó khăn cho chẩn đoán. Các bệnh phẩm được sử dụng bao gồm:
+ Đối với lao sơ nhiễm ở phổi, lao phổi: bệnh phẩm là đờm (trẻ lớn), dịch rửa dạ dày (trẻ nhỏ) vì trẻ nhỏ chưa có phản xạ ho khạc đờm mà thường nuốt đờm.
+ Dịch não tủy, dịch màng phổi, dịch màng bụng, dịch khớp.
+ Nước tiểu nếu nghi ngờ nhiễm khuẩn tiết niệu.
- Các xét nghiệm có thể làm để xác định vi khuẩn bao gồm: nhuộm soi tìm AFB đờm, nuôi cấy tìm trực khuẩn lao (MODS lao, BACTEC...), PCR lao.
- AFB đờm nếu dương tính 2/3 mẫu thì có giá trị chẩn đoán, thường dương tính ở trẻ lớn. Các xét nghiệm nuôi cấy vi khuẩn lao và PCR lao đều có giá trị chẩn đoán xác định nếu dương tính ở một mẫu bệnh phẩm.
Bước 5: Các xét nghiệm sâu hơn nếu nghi ngờ bệnh lao
- X-quang phổi: rất cần thiết. Khi nghi ngờ lao ở bất kỳ đối tượng nào, chụp phim phổi là bắt buộc, góp phần chẩn đoán và quyết định hướng điều trị.
- Hình ảnh gợi ý lao trên X-quang ở trẻ em bao gồm: hạch trung thất, mờ đều lan tỏa 2 phổi (lao kê), các thể hang lao, nốt lao hiếm gặp hơn
- Chọc dịch não tủy: khi lâm sàng bệnh nhi có các triệu chứng gợi ý như: hội chứng màng não, rối loạn tri giác, liệt thần kinh sọ, não úng thủy... nghi ngờ nguyên nhân do lao, chọc dịch não tủy xét nghiệm tìm sự biến đổi về sinh hóa và tế bào cũng như nuôi cấy vi khuẩn lao là cần thiết.
- Chụp CT cột sống, xương nếu nghi ngờ lao xương, lao cột sống.
Bước 6: Thử HIV thường quy
Nhiễm HIV thường không triệu chứng. Hơn nữa HIV làm gia tăng rất cao khả năng bị lao. Khi bệnh nhân nhiễm HIV bị lao, thái độ điều trị cũng như tiên lượng sẽ thay đổi.
Do sự kết hợp rất thường gặp của HIV và lao, nếu bệnh nhân có HIV thì nên được khuyến cáo thử các xét nghiệm về lao và ngược lại.
Khuyến cáo tiếp cận chẩn đoán lao ở trẻ em của WHO 2013.
Cho trẻ không nhiễm HIV

Cho trẻ nhiễm HIV

Cho trẻ có triệu chứng

Theo sơ đồ chẩn đoán trên, chẩn đoán lao AFB âm tính sẽ dựa vào tiền sử tiếp xúc, lâm sàng và X-quang nghi ngờ. Như vậy chẩn đoán lao hay không lao sẽ dựa nhiều vào kinh nghiệm của bác sĩ lâm sàng.
Bệnh lao ở trẻ em là bệnh lý nặng phức tạp điều trị lâu dai phức tạp do đó tiêm phòng lao là phương pháp phòng bệnh an toàn hữu hiệu nhất.
Không chỉ dành cho phụ nữ đã kết hôn hoặc có quan hệ tình dục mới cần phải khám phụ khoa. Trẻ em cũng có thể mắc bệnh phụ khoa nếu không được chăm sóc đúng cách. Do đó, việc khám phụ khoa trẻ em và lưu ý khi đưa trẻ đi khám cũng rất quan trọng.
Suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng đang là vấn đề quan trọng đối với việc nâng cao sức khỏe của trẻ em các nước đang phát triển và ở Việt Nam hiện nay. Đây là tình trạng bệnh lý theo tác động của sự nhiễm trùng, xảy ra khi chế độ ăn nghèo protein và năng lượng lâu dài, dẫn đến sự chậm phát triển về thể chất cũng như tinh thần của trẻ.
Thông thường chiếc răng sữa đầu tiên mọc khi trẻ được 6 tháng tuổi, và phần lớn trẻ mọc đủ 20 răng sữa (10 răng hàm trên và 10 răng hàm dưới) trước khi lên 3 tuổi. Sau đó các răng sữa rụng dần và sẽ được thay thế bằng răng vĩnh viễn tương ứng. Đây chính là giai đoạn mà các bậc phụ huynh cần theo dõi sát sao sự phát triển răng miệng của con mình.
Viêm nướu răng cấp tính là một trong những bệnh lý phổ biến ở vùng miệng của trẻ. Bệnh thường dễ chẩn đoán và điều trị ở mức độ nhẹ, tuy nhiên có thể nặng hơn nếu không được chữa trị kịp thời. Phát hiện viêm nướu răng sớm sẽ giúp điều trị tốt, ngăn ngừa nguy cơ bệnh tái phát cũng như các ảnh hưởng đến răng, cấu trúc xương và các mô khác.
Trẻ 11 tháng tuổi cực kỳ tò mò với tất cả mọi thứ đang tồn tại. Giờ đây trẻ ngày càng trở nên độc lập hơn bao giờ hết, và những gì phát triển ở trẻ thời điểm này sẽ tiếp tục đi theo trẻ nhiều năm sau này.
Trẻ sinh thiếu tháng chưa được chích ngừa lao và viêm gan siêu vi B thì cần làm gì?
Bé nhà em sinh thiếu tháng. Khi sinh ra bé phải nhập viện ở khoa sơ sinh. Hiện giờ bé đã được về nhà rồi. Tuy nhiên, trong giấy ra viện em thấy mũi lao và viêm gan siêu vi B bé vẫn chưa được chích ngừa. Như vậy là bé nhà em đã tiêm mũi vắc xin nào chưa ạ? Và khi nào thì em cho bé đi tiêm?
- 1 trả lời
- 1065 lượt xem
Trẻ khi sinh ra bị viêm phổi thì khi nào có thể đi tiêm vắc xin ngừa lao và viêm gan B?
Bén nhà em sinh non khi thai được 35 tuần, bé nặng 2,3kg. Khi sinh ra bé đã bị viêm phổi và phải tiêm kháng sinh nên bé chưa được tiêm vắc xin lần nào cả. Khi nào thì bé có thể đi tiêm vắc xin ngừa lao và viêm gan B được ạ?
- 0 trả lời
- 1124 lượt xem
Bé chích ngừa lao không thấy nổi hạt đậu trên bắp tay thì có tác dụng không?
Bé nhà em được sinh thường tại bệnh viện Từ Dũ. Khi bé sinh ra, bác sĩ có chích ngừa viêm gan B và lao. Tuy nhiên, chỗ chích ngừa lao trên bắp tay của bé em thấy không nổi hạt đậu giống bé đầu. Như vậy là mũi lao không có tác dụng hả bác sĩ? Ngoài ra, ở vùng kín của bé gái nhà em có chất dịch màu trắng và bám rất chắc, có mùi nữa. Ngày nào em cũng vệ sinh mà vẫn không hết. Bé như vậy là bị làm sao ạ?
- 1 trả lời
- 3203 lượt xem
Bé 3 tháng rưỡi mưng mủ mũi tiêm lao và bị sốt 38.3 độ thì có nên cho uống hạ sốt không?
Hiện bé nhà em đang được 3,5 tháng. Khoảng 5 ngày gần đây chỗ bé tiêm chích ngừa mũi bị mưng mủ lên. Bé có sốt từ 38 độ, có lúc 38,3 độ C, như thế thì em có cần cho bé uống thuốc hạ sốt không, thưa bác sĩ?
- 1 trả lời
- 2463 lượt xem
Cho trẻ hơn 5 tháng tuổi đến khám muộn tại Phòng khám trẻ có nguy cơ tại bệnh viện có được không?
Em sinh non bé khi thai mới được 31 tuần 6 ngày. Hiện tại bé nhà em đã được hơn 5 tháng tuổi. Trước đó em có lịch hẹn tái khám tại PHòng khám trẻ có nguy cơ tại bệnh viện Từ Dũ, nhưng do điều kiện ở quê xa xôi nên em chưa đi được. Giờ em muốn cho bé đến khám thì có được không ạ?
- 1 trả lời
- 1895 lượt xem
Bệnh sốt tinh hồng nhiệt xuất hiện ở trẻ từ 5-15 tuổi, hiếm khi xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi. Ngày nay, bệnh có thể điều trị bằng kháng sinh và ít nguy hiểm hơn so với trước đây.
Sốt xuất huyết là nguyên nhân hàng đầu gây ra bệnh tật và tử vong ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Sốc phản vệ xảy ra khi hệ thống miễn dịch nhầm lẫn, phản ứng với một chất vô hại như thể nó là một mối đe dọa nghiêm trọng. Điều này kích hoạt cơ thể giải phóng histamin và các hóa chất khác, gây ra một số triệu chứng - một số trong đó có thể đe dọa tính mạng.
Luôn phải tham vấn ý kiến bác sĩ trước khi cho con hoặc trẻ mới biết đi uống bất kỳ loại thuốc nào, đặc biệt nếu đó là lần đầu tiên. Trẻ nhỏ có nhiều khả năng xảy ra phản ứng phụ với thuốc hơn so với người lớn, vì vậy cho trẻ dùng thuốc theo toa hoặc không kê toa (OTC) - ngay cả thuốc "tự nhiên" hoặc "thảo dược" - là việc làm cần hết sức thận trọng.
Nguyên nhân thường gặp nhất khiến trẻ đau họng là gì? Khi bé đau họng bố mẹ cần làm gì? Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!





