1

Bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp có gì giống và khác nhau?

Bệnh Lyme đôi khi bị nhầm lẫn với các bệnh lý khác, chẳng hạn như viêm khớp dạng thấp. Cả bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp đều gây ảnh hưởng đến khớp và gây giảm khả năng vận động.
Bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp có gì giống và khác nhau? Bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp có gì giống và khác nhau?

Bệnh viêm khớp Lyme có thể chữa khỏi được trong khi bệnh viêm khớp dạng thấp là một bệnh mạn tính, không có bất cứ phương pháp nào có thể chữa khỏi hoàn toàn.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa các triệu chứng bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp:

  • Nếu các triệu chứng viêm khớp xuất hiện ở một khớp và không liên tục thì đó có thể là bệnh Lyme.
  • Nếu các triệu chứng xảy ra ở các khớp đối xứng ở cả hai bên cơ thể và tình trạng đau, cứng khớp kéo dài dai dẳng thì đó có thể là bệnh viêm khớp dạng thấp.

Bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp

Bệnh Lyme

Nguyên nhân gây bệnh Lyme đã được xác định rõ. Căn bệnh này xảy ra do nhiễm một loại vi khuẩn có hình xoắn ốc tên là Borrelia burgdorferi. Vật trung gian mang mầm bệnh là bọ ve hươu chân đen. Khi bị bọ ve cắn, vi khuẩn từ bọ ve sẽ xâm nhập vào cơ thể.

Bệnh Lyme rất khó chẩn đoán do có các triệu chứng giống với nhiều bệnh lý khác.

Bệnh Lyme có thể chữa khỏi nếu điều trị sớm bằng kháng sinh. Nhưng nếu được phát hiện và điều trị muộn, các triệu chứng sẽ trở nên nặng hơn, mặc dù bệnh vẫn có thể điều trị được.

Bệnh viêm khớp dạng thấp

Nguyên nhân gây bệnh viêm khớp dạng thấp vẫn chưa được xác định rõ. Đây là một bệnh lý viêm mạn tính xảy ra ở niêm mạc khớp và được cho là một bệnh tự miễn toàn thân.

Viêm khớp dạng thấp có thể dẫn đến tổn thương sụn và xương và sẽ trở nên ngày càng nghiêm trọng nếu như không được điều trị. Những tổn thương do bệnh viêm khớp dạng thấp gây ra sẽ vĩnh viễn không thể phục hồi được. Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp gồm có thuốc chống viêm và đôi khi cũng cần dùng thuốc kháng sinh.

Yếu tố nguy cơ

Yếu tố nguy cơ của bệnh Lyme

Yếu tố chính làm tăng nguy cơ mắc bệnh Lyme là sinh sống, làm việc hoặc đến những nơi có bọ ve hươu.

Khoảng 60% những người mắc bệnh Lyme không được điều trị sẽ bị viêm khớp, gọi là viêm khớp Lyme. Trong hầu hết các trường hợp, thuốc kháng sinh có thể chữa khỏi bệnh viêm khớp Lyme. Nhưng trong một số trường hợp, bệnh viêm khớp Lyme không đáp ứng với thuốc kháng sinh. Một nghiên cứu nhỏ cho thấy có tới 1/3 số người bị viêm khớp Lyme không đáp ứng với kháng sinh.

Ngoài ra, một số người bị viêm khớp sau khi mắc bệnh Lyme, bao gồm cả viêm khớp dạng thấp. Một nghiên cứu vào năm 2000 ước tính rằng khoảng 10% người trưởng thành mắc bệnh viêm khớp Lyme bị viêm khớp không đáp ứng với kháng sinh.

Các nhà khoa học vẫn chưa hiểu rõ về vai trò của kháng thể gây viêm trong bệnh viêm khớp và bệnh Lyme. Trong một nghiên cứu tại Pháp vào năm 2016 trên 814 người mới được chẩn đoán viêm khớp, chỉ có 11,2% có kháng thể IgM, đây là yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.

Một nghiên cứu cho thấy sau khi bị viêm khớp Lyme từ 10 đến 20 năm, hơn 50% số người mắc bệnh vẫn có phản ứng kháng thể IgM hoặc IgG dương tính với vi khuẩn Lyme. Một phần ba số người mắc bệnh Lyme ở giai đoạn đầu cũng có phản ứng kháng thể dương tính sau 10 đến 20 năm.

Bệnh Lyme làm tăng nguy cơ viêm khớp dạng thấp

Bị bệnh Lyme sẽ làm tăng nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp và các loại viêm khớp khác, chẳng hạn như viêm khớp vảy nến và viêm khớp cột sống ngoại biên.

Trong một nghiên cứu vào năm 2016, khoảng một phần ba số người tham gia bị viêm khớp Lyme sau đó đã mắc các loại viêm khớp như viêm khớp dạng thấp.

Nếu bệnh Lyme được phát hiện sớm và điều trị ngay lập tức bằng một đợt kháng sinh thì người bệnh sẽ không bị viêm khớp Lyme. Một trong những triệu chứng ban đầu phổ biến nhất của bệnh Lyme là phát ban. Tuy nhiên, rất nhiều người bị bệnh Lyme không có triệu chứng này và bệnh không được chẩn đoán sớm.

Yếu tố nguy cơ của bệnh viêm khớp dạng thấp

Có lượng kháng thể IgM cao là một yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp. Sự hiện diện của các kháng thể này, được gọi là yếu tố dạng thấp (rheumatoid factor - RF), có thể dẫn đến phản ứng miễn dịch tấn công các mô khỏe mạnh. Kháng thể IgM hiện vẫn chưa được hiểu rõ và kháng thể này cũng được tìm thấy ở những người mắc các bệnh nhiễm trùng khác.

Một dấu hiệu khác của bệnh viêm khớp dạng thấp là có kháng thể kháng CCP (anti-CCP) trong máu.

Mặc dù nguyên nhân gây bệnh chính xác chưa được xác định rõ nhưng các yếu tố có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp gồm có:

  • Hút thuốc: Đây là một yếu tố làm tăng đáng kể nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp và mức độ nghiêm trọng của bệnh viêm khớp dạng thấp.
  • Béo phì: Đây là một trong những yếu tố nguy cơ chính làm tăng nguy cơ viêm khớp dạng thấp ở người dưới 55 tuổi.
  • Tiền sử gia đình mắc bệnh tự miễn.
  • Là phụ nữ: Phụ nữ có nguy cơ mắc viêm khớp dạng thấp cao gấp 2 đến 3 lần so với nam giới.
  • Làm công việc thường xuyên phải tiếp xúc với bụi và sợi.
  • Gen: Viêm khớp dạng thấp không phải bệnh di truyền nhưng mang một số gen nhất định có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.
  • Nội tiết tố: Một số yếu tố nội tiết và môi trường, gồm có nhiễm trùng và chấn thương, có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.

Điều thú vị là uống rượu ở mức độ vừa phải có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh viêm khớp dạng thấp.

Triệu chứng bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp

Triệu chứng bệnh Lyme

Các triệu chứng viêm khớp Lyme gồm có đau nhức, cứng và sưng khớp. Thông thường, các triệu chứng chỉ xảy ra ở một khớp, thường là đầu gối nhưng bệnh cũng có thể xảy ra ở các khớp nhỏ hơn hoặc ở gân. Cơn đau do viêm khớp Lyme thường xảy ra không liên tục.

Ngoài các triệu chứng ở khớp, bệnh Lyme còn có nhiều triệu chứng khác, gồm có:

  • Nổi mẩn đỏ ở vị trí bị bọ ve cắn, sau đó nốt mẩn đỏ trở nên ngứa, nóng và đau
  • Các triệu chứng giống cúm như đau đầu, mệt mỏi, đau cơ
  • Đổ mồ hôi vào ban đêm
  • Suy giảm nhận thức
  • Các vấn đề về thần kinh như khó giữ thăng bằng hoặc liệt mặt
  • Nhạy cảm với ánh sáng
  • Vấn đề về tim mạch

Triệu chứng viêm khớp dạng thấp

Các triệu chứng ban đầu của bệnh viêm khớp dạng thấp gồm có:

  • Khớp sưng, đau và nóng
  • Cứng khớp ở cả hai bên cơ thể, đặc biệt là vào buổi sáng hoặc sau một thời gian không hoạt động
  • Các triệu chứng này thường xảy ra ở các khớp nhỏ, chẳng hạn như khớp ngón tay và ngón chân
  • Giảm phạm vi chuyển động khớp
  • Mệt mỏi
  • Ăn không ngon miệng
  • Sốt

Khoảng 40% người bị viêm khớp dạng thấp có các triệu chứng không liên quan đến khớp. Bệnh viêm khớp dạng thấp còn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến mắt, da, tim và phổi.

Điểm khác biệt giữa bệnh Lyme và viêm khớp dạng thấp

  Bệnh Lyme Viêm khớp dạng thấp
Triệu chứng về khớp
  • Thường chỉ xảy ra ở một bên cơ thể
  • Đa phần xảy ra ở các khớp lớn, thường là đầu gối.
  • Thường xảy ra ở nhiều khớp, đa phần là các khớp nhỏ như các khớp ở bàn tay và bàn chân.
  • Xảy ra ở các khớp đối xứng trên cơ thể.
Các triệu chứng khác Nhiều triệu chứng giống với các bệnh lý khác
  • Mệt mỏi, cảm giác không khỏe
  • Chán ăn
  • Sốt
Chẩn đoán
  • Các xét nghiệm tiêu chuẩn không phải lúc nào cũng chính xác.
  • Thường được chẩn đoán dựa trên triệu chứng và phản ứng với thuốc kháng sinh.
Việc chẩn đoán có thể khó khăn, đặc biệt là ở những người có tiền sử mắc bệnh Lyme
Thời gian xảy ra các triệu chứng Không liên tục Các triệu chứng xảy ra theo đợt, sau đó là giai đoạn thuyên giảm
Mức độ đau Nhẹ đến nặng
  • Từ nhẹ đến nặng
  • Tình trạng cứng khớp thường kéo dài hơn một giờ vào buổi sáng
Phản ứng với kháng sinh Trong hầu hết các trường hợp, các triệu chứng đáp ứng với thuốc kháng sinh Đôi khi bệnh viêm khớp dạng thấp đáp ứng với thuốc kháng sinh, nhưng điều này chưa được hiểu rõ và không phải ca bệnh nào cũng cần điều trị bằng kháng sinh.
Nguyên nhân Xảy ra do nhiễm vi khuẩn Xảy ra do sự nhẫm lẫn của hệ miễn dịch, nguyên nhân gây ra điều này chưa được xác định rõ
Yếu tố nguy cơ Sinh sống ở nơi có bọ ve hươu Hút thuốc lá, sử dụng hormone ngoại sinh, là phụ nữ, tiền sử gia đình mắc các bệnh tự miễn và béo phì.

Điều trị

Điều trị bệnh Lyme và viêm khớp Lyme

Người mắc bệnh Lyme cần điều trị bằng một đợt kháng sinh trong ít nhất một tháng. Điều trị sớm bằng loại kháng sinh thích hợp sẽ ngăn ngừa được viêm khớp Lyme. Loại kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất để điều trị bệnh Lyme là doxycycline.

Viêm khớp đôi khi là triệu chứng đầu tiên của bệnh Lyme. Các triệu chứng viêm khớp thường giảm sau một đợt kháng sinh.

Thuốc kháng sinh có thể được dùng qua đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch, tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng.

Khi viêm khớp Lyme xảy ra ở giai đoạn sau nhiễm trùng, người bệnh có thể sử dụng các loại thuốc chống viêm như methotrexate.

Điều trị viêm khớp dạng thấp

Các phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho bệnh viêm khớp dạng thấp gồm có các loại thuốc làm giảm viêm:

  • Thuốc chống viêm không steroid (NSAID)
  • Thuốc chống thấp khớp tác dụng chậm (DMARD) thông thường hoặc sinh học

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Điểm khác biệt giữa viêm khớp dạng thấp và bệnh lý thần kinh ngoại biên
Điểm khác biệt giữa viêm khớp dạng thấp và bệnh lý thần kinh ngoại biên

Bệnh thần kinh ngoại biên có thể là một biến chứng của bệnh viêm khớp dạng thấp. Điều trị bệnh viêm khớp dạng thấp có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát bệnh thần kinh ngoại biên. Người bệnh cũng có thể cần dùng thêm thuốc điều trị bệnh thần kinh ngoại biên.

Sự khác biệt giữa viêm khớp dạng thấp và bệnh lupus
Sự khác biệt giữa viêm khớp dạng thấp và bệnh lupus

Tìm hiểu về bệnh viêm khớp dạng thấp và bệnh lupus, hai bệnh lý đều có triệu chứng đặc trưng là đau khớp và cứng khớp. Mặc dù có một số điểm tương đồng nhưng đây là hai căn bệnh hoàn toàn riêng biệt. Bệnh viêm khớp dạng thấp gây ảnh hưởng nhiều hơn đến khả năng chuyển động của khớp.

Hiểu về bệnh viêm khớp dạng thấp
Hiểu về bệnh viêm khớp dạng thấp

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn gây sưng, đau và cứng khớp. Mặc dù không có cách chữa trị khỏi hoàn toàn nhưng chẩn đoán và điều trị sớm có thể giúp kiểm soát các triệu chứng và ngăn ngừa tổn thương khớp vĩnh viễn.

Bệnh viêm khớp dạng thấp có di truyền không?
Bệnh viêm khớp dạng thấp có di truyền không?

Viêm khớp dạng thấp không được coi là một bệnh di truyền. Tuy nhiên, việc mang một số gen nhất định có thể làm tăng nguy cơ mắc căn bệnh này.

Triệu chứng bệnh viêm khớp dạng thấp ở móng tay, móng chân
Triệu chứng bệnh viêm khớp dạng thấp ở móng tay, móng chân

Viêm khớp dạng thấp là một bệnh tự miễn xảy ra ở các khớp, có triệu chứng là sưng đau và cứng khớp. Bệnh còn có thể ảnh hưởng đến các cơ quan nội tạng và gây ra các triệu chứng khác, gồm có sự thay đổi bất thường ở móng tay, móng chân.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây