1

Phân biệt huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương

Huyết áp tâm thu là số đầu tiên trong kết quả đo huyết áp, là áp lực máu khi tim co bóp đẩy máu ra ngoài. Huyết áp tâm trương là số thứ hai, là áp lực máu khi cơ tim giãn ra và máu chảy trở lại tim.
Phân biệt huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương Phân biệt huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương

Một bước không thể thiếu trong quá trình khám sức khỏe tổng quát là đo huyết áp. Đây là bước rất quan trọng vì chỉ số huyết áp cho biết tim có đang hoạt động tốt hay không.

Kết quả đo huyết áp gồm có hai chỉ số: huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương. Vậy hai loại huyết áp này là gì và giá trị bao nhiêu thì được coi là bình thường?

Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương là gì?

Tim là một cơ quan có kích thước bằng khoảng hai cái nắm tay và cấu tạo chủ yếu gồm có cơ. Tim gồm 4 buồng và 4 van. Các van này mở và đóng để máu di chuyển qua các buồng cũng như di chuyển vào và ra khỏi tim.

Tim đập khoảng 60 đến 100 lần mỗi phút khi nghỉ ngơi và đập nhiều hơn khi vận động, nghĩa là tim đập khoảng 100.000 lần mỗi ngày. Khi tim đập, dòng máu sẽ gây áp lực lên thành động mạch.

Huyết áp tâm thu

Huyết áp tâm thu (systolic blood pressure) là chỉ số bên trên hoặc đằng trước trong kết quả đo huyết áp, là áp lực mà máu tác động lên thành động mạch khi tâm thất (hai buồng dưới của tim) co bóp, đẩy máu đến phần còn lại của cơ thể. Giai đoạn này được gọi là “tâm thu” (systole).

Máy đo huyết áp hiển thị giá trị huyết áp tâm thu tối đa, nghĩa là mức huyết áp cao nhất trong giai đoạn tâm thu.

Huyết áp tâm trương

Huyết áp tâm trương (diastolic blood pressure) là chỉ số ở dưới hoặc đằng sau trong kết quả đo huyết áp, là áp lực mà máu tác động lên thành động mạch khi cơ tim giãn ra và tâm thất nạp lại máu. Khoảng thời gian mà cơ tim giãn ra giữa các lần co bóp được gọi là giai đoạn tâm trương (diastole). Đây cũng là khoảng thời gian mà động mạch vành cung cấp máu cho tim.

Huyết áp tâm trương hiển thị trên máy đo huyết áp là giá trị tối thiểu, nghĩa là mức huyết áp thấp nhất trong giai đoạn tâm trương.

Hiệu áp hay áp lực mạch đập (pulse pressure) là hiệu số giữa huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương.

Huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương bao nhiêu là bình thường?

Huyết áp được đo bằng đơn vị milimét thủy ngân (mmHg). Hai chỉ số trong kết quả đo huyết áp thường được phân tách bằng dấu gạch chéo, ví dụ như 120/80, nghĩa là huyết áp tâm thu là 120 mmHg và huyết áp tâm trương là 80 mmHg, đọc là “120 trên 80”.

Theo Hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), huyết áp ở người lớn được chia thành các mức như sau:

  Huyết áp tâm thu
(mmHg)
  Huyết áp tâm trương
(mmHg)
Huyết áp bình thường Dưới 120 dưới 80
Tiền tăng huyết áp 120 - 129 dưới 80
Tăng huyết áp độ 1 130 - 139 hoặc 80 - 89
Tăng huyết áp độ 2 140 trở lên hoặc 90 trở lên
Cơn tăng huyết áp Trên 180 và/hoặc trên 120

Có nhiều tiêu chuẩn xác định huyết áp thấp nhưng đa phần, huyết áp dưới 90/60 mmHg được coi là thấp. Bên cạnh kết quả đo huyết áp, bác sĩ còn dựa vào các triệu chứng, độ tuổi và các loại thuốc mà bạn đang dùng để chẩn đoán huyết áp thấp.

Huyết áp tâm thu hay huyết áp tâm trương quan trọng hơn?

Cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương đều quan trọng nhưng huyết áp tâm thu thường được quan tâm nhiều hơn. Các nghiên cứu cho thấy huyết áp tâm thu cao có mối liên hệ chặt chẽ hơn với nguy cơ gặp biến cố tim mạch, chẳng hạn như nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Mặc dù huyết áp tâm trương cao cũng làm tăng nguy cơ gặp các vấn đề này nhưng không nhiều bằng huyết áp tâm thu.

Tuy nhiên, một nghiên cứu vào năm 2021 cho thấy ở những người dưới 50 tuổi, huyết áp tâm trương có ảnh hưởng nhiều hơn đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

Nguyên nhân gây huyết áp cao và huyết áp thấp

Huyết áp cao (tăng huyết áp) phổ biến hơn nhiều so với huyết áp thấp (hạ huyết áp).

Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), gần một nửa số người trưởng thành ở Hoa Kỳ bị huyết áp cao.

Huyết áp cao và huyết áp thấp có nguyên nhân và yếu tố nguy cơ rất khác nhau.

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây huyết áp cao

Một số yếu tố nguy cơ gây huyết áp cao nằm ngoài tầm kiểm soát, có nghĩa là không thể thay đổi được, chẳng hạn như giới tính, tuổi tác, di truyền và tiền sử gia đình. Ví dụ, khi còn trẻ, nam giới có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn so với phụ nữ.

Bên cạnh đó cũng có những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi, gồm có thói quen lối sống và các vấn đề sức khỏe, chẳng hạn như:

  • Bệnh tiểu đường
  • Cholesterol cao
  • Bệnh thận
  • Chứng ngưng thở khi ngủ
  • Lối sống ít vận động
  • Hút thuốc
  • Uống quá nhiều rượu
  • Căng thẳng mạn tính
  • Chế độ ăn nhiều muối, đường và chất béo

Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây huyết áp thấp

Các nguyên nhân gây huyết áp thấp gồm có:

  • Rối loạn nhịp tim
  • Rối loạn thần kinh thực vật
  • Mất máu
  • Mất nước
  • Mang thai
  • Một số loại thuốc, chẳng hạn như thuốc điều trị tăng huyết áp, trầm cảm hoặc bệnh Parkinson

Những người trên 65 tuổi có nguy cơ cao bị hạ huyết áp tư thế, tình trạng huyết áp giảm đột ngột khi chuyển từ tư thế nằm hoặc ngồi sang tư thế đứng, gây chóng mặt, xây xẩm và có thể ngất xỉu.

Có khi nào huyết áp tâm thu cao trong khi huyết áp tâm trương thấp hoặc ngược lại không?

Một trong hai chỉ số huyết áp ở mức cao trong khi chỉ số còn lại thấp là điều gần như không thể xảy ra. Tuy nhiên, một trong hai chỉ số ở mức cao trong khi chỉ số còn lại ở mức bình thường thì lại khá phổ biến.

Có một loại tăng huyết áp gọi là tăng huyêt áp tâm thu đơn độc. Đó là khi huyết áp tâm thu cao trong khi huyết áp tâm trương bình thường. Đây là loại tăng huyết áp phổ biến nhất ở người lớn tuổi.

Tương tự, tăng huyết áp tâm trương đơn độc là khi huyết áp tâm trương cao trong khi huyết áp tâm thu ở mức bình thường. Một tổng quan nghiên cứu vào năm 2021 cho thấy tăng huyết áp tâm trương đơn độc làm tăng nguy cơ gặp biến cố tim mạch.

Hạ huyết áp tâm trương đơn độc là tình trạng huyết áp tâm trương thấp trong khi huyết áp tâm thu bình thường. Tình trạng này thường là do tuổi già hoặc dùng thuốc điều trị tăng huyết áp.

Hạ huyết áp tâm thu đơn độc là khi huyết áp tâm thu thấp trong khi huyết áp tâm trương bình thường.

Triệu chứng của huyết áp cao và huyết áp thấp

Huyết áp cao thường không có triệu chứng cho đến khi tăng lên mức quá cao (cơn tăng huyết áp). Huyết áp cao được gọi là “kẻ giết người thầm lặng” vì không có triệu chứng nhưng lại âm thầm làm hỏng mạch máu và các cơ quan. Trong nhiều trường hợp, mãi đến tận khi có biến chứng thì tình trạng tăng huyết áp mới được phát hện.

Huyết áp cao không được kiểm soát có thể dẫn đến các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, suy tim và đột quỵ. Huyết áp cao còn ảnh hưởng đến các cơ quan, hệ thống khác trong cơ thể như mắt và thận.

Mặt khác, huyết áp quá thấp đa phần có triệu chứng. Các triệu chứng thường gặp của huyết áp thấp (tụt huyết áp) gồm có:

  • Chóng mặt
  • Ngất xỉu
  • Co giật
  • Đau ngực
  • Mất thăng bằng
  • Buồn nôn
  • Khát nước
  • Không có khả năng tập trung
  • Đau đầu
  • Nhìn mờ
  • Mệt mỏi
  • Khó thở
  • Da nhợt nhạt, xanh xao
  • Đổ mồ hôi

Các cách kiểm soát huyết áp cao và huyết áp thấp

Cả huyết áp cao và huyết áp thấp đều có thể điều trị bằng thuốc và thay đổi lối sống.

Kiểm soát và phòng ngừa huyết áp cao

Ngoài dùng thuốc, thay đổi lối sống cũng là một điều cần thiết để kiểm soát tình trạng tăng huyết áp. Những thay đổi lối sống này cũng giúp ngăn ngừa hoặc giảm nguy cơ tăng huyết áp.

  • Giảm tối đa lượng đường bổ sung, muối và chất béo bão hòa trong chế độ ăn uống
  • Ăn các loại thực phẩm tốt cho tim mạch như thịt nạc, cá, trái cây, rau và ngũ cốc nguyên hạt
  • Thực hiện chế độ ăn DASH
  • Uống đủ nước
  • Tập thể dục đều đặn và tích cực vận động hàng ngày
  • Bỏ thuốc lá nếu hút
  • Duy trì cân nặng vừa phải
  • Hạn chế rượu bia
  • Giảm căng thẳng
  • Đo huyết áp thường xuyên
  • Kiểm soát các bệnh lý gây tăng huyết áp như bệnh tiểu đường, bệnh thận hay chứng ngưng thở khi ngủ

Kiểm soát và phòng ngừa huyết áp thấp

Phương pháp điều trị huyết áp thấp tùy thuộc vào nguyên nhân.

Nếu nguyên nhân là do tác dụng phụ của một loại thuốc thì cần phải giảm liều hoặc ngừng thuốc. Nếu nguyên nhân là do nhiễm trùng thì phương pháp điều trị là dùng thuốc kháng sinh. Nếu huyết áp thấp là do thiếu máu thì có thể khắc phục bằng cách uống bổ sung sắt hoặc vitamin B12.

Uống nhiều nước có thể giúp ngăn ngừa tụt huyết áp. Nếu bạn đang mắc một bệnh lý hoặc đang dùng một thuốc có thể gây tụt huyết áp thì hãy trao đổi với bác sĩ về các triệu chứng cần lưu ý và cách giảm thiểu nguy cơ.

Nếu bạn thường xuyên bị hạ huyết áp tư thế, hãy đứng dậy từ từ khi đang ngồi hoặc nằm.

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan
Tăng huyết áp thứ phát: Nguyên nhân và phương pháp điều trị
Tăng huyết áp thứ phát: Nguyên nhân và phương pháp điều trị

Khi tăng huyết áp xảy ra do một bệnh lý khác thì được gọi là tăng huyết áp thứ phát. Bệnh thận mạn (suy thận mạn) là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây tăng huyết áp thứ phát. Để điều trị tăng huyết áp thứ phát, trước tiên cần điều trị nguyên nhân gốc rễ.

Tăng huyết áp ẩn giấu: Cách nhận biết và điều trị
Tăng huyết áp ẩn giấu: Cách nhận biết và điều trị

Tăng huyết áp ẩn giấu là khi huyết áp đo tại bệnh viện ở mức bình thường nhưng lại ở mức cao khi đo tại nhà. Theo dõi huyết áp tại nhà sẽ giúp phát hiện tình trạng này.

Sự khác biệt giữa bệnh võng mạc do tăng huyết áp và bệnh võng mạc đái tháo đường
Sự khác biệt giữa bệnh võng mạc do tăng huyết áp và bệnh võng mạc đái tháo đường

Bệnh võng mạc là tình trạng võng mạc bị tổn thương. Nếu không được điều trị, bệnh võng mạc có thể gây mù lòa. Bệnh võng mạc do tăng huyết áp xảy ra do huyết áp cao kéo dài, trong khi bệnh võng mạc đái tháo đường là biến chứng của bệnh đái tháo đường.

Tăng huyết áp ác tính (tăng huyết áp cấp cứu) là gì?
Tăng huyết áp ác tính (tăng huyết áp cấp cứu) là gì?

Khi huyết áp đột ngột tăng lên trên 180/120 mmHg thì được gọi là cơn tăng huyết áp. Khi tình trạng này đi kèm các triệu chứng mới, nhất là các triệu chứng về mắt, não, tim hoặc thận thì được gọi là cơn tăng huyết áp cấp cứu hay tăng huyết áp ác tính.

Các phương pháp điều trị tăng huyết áp (cao huyết áp)
Các phương pháp điều trị tăng huyết áp (cao huyết áp)

Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ. Có nhiều phương pháp điều trị có thể giúp kiểm soát huyết áp, gồm có thay đổi lối sống và dùng thuốc. Phác đồ điều trị tăng huyết áp thường gồm có sự kết hợp giữa dùng thuốc và thay đổi lối sống. Mục tiêu là đưa huyết áp về mức khỏe mạnh.

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây