Dị sừng nang lông - Bộ y tế 2015
1. ĐẠI CƯƠNG
- Còn gọi là bệnh dị sừng nang lông của Darier, do rối loạn sừng hóa. Dị sừng nang lông là bệnh di truyền trội. Gen bệnh di truyền ở vị trí nhiễm sắc thể 12q 23-24.1.
- Bệnh được Lutz mô tả đầu tiên năm 1860 trong phạm vi của bệnh trứng cá gọi là bệnh trứng cá da mỡ dày sừng tăng sản. Năm 1864, Lebert coi là bệnh vảy cá da mỡ. Năm 1889, Darier xác định rõ bệnh với các đặc điểm riêng về lâm sàng và mô bệnh học.
- Tỷ lệ mắc bệnh ở Bắc Âu là 1/100.000 và ở Anh là 1/55.000. Tỷ lệ bệnh ở nam giới và nữ giới ngang nhau.
2. CHẨN ĐOÁN
a) Chẩn đoán xác định
- Lâm sàng
- Bệnh khởi phát ở tất cả các lứa tuổi, thường gặp nhiều ở độ từ 6-20 tuổi, đỉnh cao ở tuổi dậy thì. Những biến đổi tiết mồ hôi, chất bã, thậm chí thay đổi vi khuẩn chí có thể đóng vai trò quan trọng trong giai đoạn khởi phát bệnh này. Ở vùng phát thương tổn, đầu tiên thấy thô ráp và có màu xám bẩn.
- Thương tổn cơ bản là sẩn sừng nhỏ, kích thước từ 1-3mm, màu hồng hoặc hơi nâu. Trên sẩn phủ vảy tiết màu nâu hơi xám, bẩn, sần sùi, dính vào da. Các sẩn kết hợp lại với nhau tạo thành mảng lớn. Mùi khó chịu cùng với những những biểu hiện cáu ghét làm người bệnh khó hòa nhập được với cộng đồng cũng như khó tìm việc làm.
- Vị trí thương tổn ưu tiên ở vùng da mỡ như ở mặt, thái dương, da đầu, mặt bên cổ, vùng giữa lưng, ngực, đôi khi thấy ở các nếp gấp. Ở các đầu tận cùng, đặc biệt là ở mu bàn tay thương tổn giống dày sừng dạng hạt cơm của Hopf. Lòng bàn tay, bàn chân, khám kỹ có thể tìm những chấm nhỏ lõm giữa, màu vàng nhạt, trong suốt (giếng nhỏ). Thương tổn này rất có giá trị giúp chẩn đoán xác định bệnh. Có thể thấy dày sừng ở lòng bàn tay, chân dạng sợi chỉ cũng như các mảng xuất huyết.
- Thương tổn móng: móng bè rộng, có những khía dọc, có các băng dọc màu đỏ xen kẽ các băng trắng, đôi khi thấy vết nứt, khấc ở bờ tự do của móng làm móng dễ gẫy và có dày sừng dưới móng.
- Thương tổn niêm mạc: gặp 20% trường hợp, là các sẩn hơi lõm giữa, màu trắng ngà hoặc hồng, tập trung thành đám. Vị trí ở miệng, thực quản, hậu môn, sinh dục. Có thể tuyến nước bọt cũng bị tổn thương.
- Triệu chứng toàn thân hiếm gặp như: teo não, động kinh, chậm phát triển, có thể tổn thương bộ phận sinh dục, tuyến giáp, phổi, loạn sản mạch máu, u nang xương.
- Các thể lâm sàng
- Dạng khu trú: thương tổn sắp xếp theo dây thần kinh.
- Thể da mỡ: mặt thương tổn tiết nhiều bã nhờn, gặp ở vùng ngực lưng. Thương tổn là các sẩn màu hồng hơi gờ cao.
- Thể nhẹ: thương tổn như khi mới phát, là sẩn như hạt kê, bóng, ít dày sừng.
- Thể bọng nước, mụn nước: thương tổn là các mụn mủ trên các sẩn sừng hoặc các bọng nước chứa dịch đục. Bọng nước, mụn nước phát triển thành từng đợt, có khi phát trước dày sừng. Bọng nước dập vỡ để lại mảng da tiết dịch, bờ dày hình nhiều vòng cung giống như pemphigus sùi.
- Cận lâm sàng: mô bệnh học
- Vị trí xẻ thớ thượng bì ngay trên lớp đáy kèm theo bất thường sừng hóa của một số tế bào sừng. Những tế bào này đứt cầu nối, tách ra và hình thành những vật thể hình tròn.
- Lớp sừng có biểu hiện dày sừng từng chỗ và á sừng.
- Lớp hạt bị đứt đoạn bởi các ổ dị sừng rải rác.
b) Chẩn đoán phân biệt
- Bệnh pemphigus gia đình của Hailey-Hailey: thương tổn ở các nếp gấp nhưng móng không bị tổn thương. Hình ảnh mô bệnh học không có dị sừng.
- Pemphigus sùi
- Loạn sản thượng bì dạng hạt cơm (epidermodysplasie verruciforme): bệnh di truyền lặn, gây bệnh da do HPV5,8 chiếm trên 90% trường hợp. Thương tổn là sẩn hơi gờ cao, dày sừng nhẹ, rải rác khắp người nhất là mu tay, trước cẳng tay, mặt, chân và thân mình.
3. ĐIỀU TRỊ
- Những trường hợp nhẹ không cần thiết phải điều trị hoặc có thể chỉ sử dụng các thuốc bôi làm dịu da và tránh nắng mặt trời, phòng các nguy cơ bội nhiễm.
- Trường hợp nặng hơn:
+ Thuốc tại chỗ: kem dịu da, thuốc bạt sừng, mỡ kháng sinh, thuốc sát trùng, vitamin A axít bôi tại chỗ.
+ Thuốc toàn thân:
- Kháng sinh để chống lại mùi hôi và chống bội nhiễm.
- Vitamin A axít có tác dụng tốt, liều 0,25mg/kg/ngày.
- Corticoid liều thấp 20-40mg/ngày.
+ Ngoại khoa: mài da, laser CO2, đốt điện, cắt bỏ đám da sùi ghép da, đôi khi gây hiện tượng Köebner.
4. TIẾN TRIỂN VÀ BIẾN CHỨNG
a) Tiến triển
- Bệnh tiến triển mạn tính. Bệnh thường tăng về mùa hè do ảnh hưởng của thời tiết nắng, nóng và tăng tiết mồ hôi. Bệnh có thể nặng thêm khi sử dụng carbonat lithium hoặc corticoid toàn thân.
- Thai nghén và mãn kinh thường không ảnh hưởng đến bệnh. Đôi khi bệnh có thể nặng thêm trong kỳ kinh nguyệt.
- Một phần ba trường hợp bệnh được cải thiện theo tuổi.
b) Biến chứng
Biến chứng thường gặp là bội nhiễm nấm trichophyton, vi khuẩn (tụ cầu), đặc biệt dễ mắc bệnh da do virút như HSV1 và HSV2, có thể lan tỏa toàn thân tạo thành hình thái như mụn mủ dạng đậu mùa.
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh da liễu - Bộ y tế 2015
Tài liệu bổ sung một số quy trình kỹ thuật chuyên khoa răng hàm mặt
Hướng dẫn quy trình kỹ thuật khám bệnh, chữa bệnh Nội khoa, chuyên ngành Cơ Xương Khớp - Bộ y tế 2014
500 quy trình kỹ thuật gây mê hồi sức
Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh da liễu - Bộ y tế 2015
Viêm nang lông có thể xảy ra ở trẻ em hoặc người lớn, nhưng hiếm khi xảy ra ở trẻ dưới 2 tuổi.
Câu hỏi: - Thưa bác sĩ, tôi có thể làm gì để loại bỏ những đám lông thừa của mình trong khi đang mang thai ạ? Tẩy lông như thế nào sẽ an toàn cho em bé của tôi? Cảm ơn bác sĩ!
Câu hỏi: - Bác sĩ ơi, trong khi đang mang thai, tôi có thể bôi sản phẩm làm nhạt màu lông của mình được không ạ? Làm như thế có an toàn cho em bé không? Cảm ơn bác sĩ!
Lồng ruột là một bệnh lý thường xảy ra ở trẻ nhỏ. Nếu không được điều trị, bệnh có thể đe dọa tính mạng. Nếu được chẩn đoán sớm, bệnh hoàn toàn có thể điều trị được.
Nhiều người cho rằng âm đạo có thể mất tính đàn hồi và trở nên lỏng lẻo mãi mãi. Điều này là không đúng.
- 1 trả lời
- 739 lượt xem
Thưa bác sĩ, hiện tôi đang mang thai, tôi có thể sử dụng được chất tẩy lông bằng hóa học được không ạ? Chất này có gây nguy hại cho em bé của tôi không? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1085 lượt xem
Bác sĩ ơi, tôi có thể tẩy lông vùng bikini khi đang mang thai không ạ? Việc tẩy lông có an toàn cho bé không? Cảm ơn bác sĩ!
- 1 trả lời
- 1279 lượt xem
Bé trai nhà em sinh non ở tuần thứ 36, bé nặng 2,6kg. Đến nay bé đã được gần 3 tháng nhưng chỉ nặng 5,2kg. Em cho bé bú mẹ hoàn toàn. Tháng đầu tiên bé tăng 1kg, tháng thứ 2 là 1,2kg nhưng tháng thứ 3 chỉ tăng 400g. 15 ngày nay bé nhà em ị 4-5 lần/ngày, sôi bụng, phân lỏng có nhầy và bọt. Mẹ không ăn gì lạ. Và bé bú cũng chỉ được 10p là nhả ti, ép bú thêm là khóc. Bé nhà em phân bị như vậy có nhỏ rota được không ạ? Em bổ sung men vi sinh cho bé có được không và làm gì để khắc phục tình trạng này của bé ạ?
- 1 trả lời
- 787 lượt xem
Em sinh bé đầu lòng mới được 12 ngày ạ. Ngày đầu tiên sữa mẹ chưa về nên em cho bé bú sữa ngoài. Mấy ngày sau em vẫn cho bé ti mẹ nhưng bé có vẻ không thích lắm nên em lại cho bé bú thêm sữa ngoài. Nay em cho bé ti mẹ hoàn toàn. Bé bú cả 2 bên và vừa bú vừa ngủ trong vòng 1h. Nhưng bé lại ngủ không sâu giấc, chỉ ngủ tầm 15-30 phút là dậy. Có phải do bé ti mẹ không đủ no nên như vậy không bác sĩ?
- 1 trả lời
- 825 lượt xem
Hiện giờ bé nhà em đang được 1m13d. Bé hoàn toàn ăn bằng sữa mẹ. Bình thường bé 4 ngày đi ị một lần. Hàng ngày em có bổ sung canxi, sắt, vitamin và 1 giọt Vitamin D3 Aquadetrim cho bé. Khoảng hơn 3 ngày nay, bé đột nhiên có hiện tượng đi ngoài 4 lần/ ngày, phân lỏng nước, màu xanh, có cả bọt. Em cho bé đi khám thì được bác sĩ chẩn đoán là bé bị nhiễm trùng đường ruột và kê thuốc enterogermina (uống 2 lần/ngày, mỗi lần nửa ống) và thuốc zithromax 200mg (uống ngày 2 lần, 1ml/lần). Bé uống được 3 ngày thì phân chuyển sang màu vàng, nhầy, vẫn có nước và cả lợn cợn. Ngày bé đi khoảng 3 lần, 2 lần đầu thì không sao nhưng đến lần thứ 3 lại có vài tia máu nhỏ. Bé bị như vậy có đáng lo ngại không ạ? Và phân bé như vậy đã bình thường chưa, thưa bác sĩ?



