1

Yếu tố nguy cơ và dự phòng bệnh ung thư - bệnh viện 103

Yếu tố nguy cơ

Ung thư là bệnh do nhiều yếu tố với nhiều hình thái khác nhau cho nên chúng không tuân theo một quy luật chung. Nguyên nhân của UT có thể được chia làm 2 nhóm chính là nguyên nhân ngoại sinh và nội sinh.

Tác nhân hóa học gây UT

Các chất gây UT trong công nghiệp

Con người luôn chịu tác động ô nhiễm của môi trường bởi các hoá chất sinh UT công nghiệp, đặc biệt là công nhân ở các nhà máy. Nếu như các biện pháp vệ sinh lao động được chú ý, có thể hạn chế UT đến mức tối thiểu. Người ta thấy tỷ lệ UT phổi cao do asbestos ở các nhà máy đóng tàu. Naphthylamine trong phẩm nhuộm là nguyên nhân gây UT bàng quang ở những người làm nghề nhuộm. Công nhân ở các mỏ niken thường UT mũi, nông dân sử dụng thuốc trừ sâu nhiều dễ bị UT da.

 Chất hoá học gây UT

Có nhiều loại thuốc nguồn gốc hóa học dùng cho điều trị có thể là tác nhân gây UT, như ở bệnh nhân được điều trị bằng các tác nhân alkyl hoá như nitrogen mustard hoặc cyclophosphomid, các UT thứ phát thường phát triển.

Các chất hoá học gây UT có rất nhiều trong môi trường sống, con người khó tránh không bị tác động của các hoá chất này.

Các chất hoá học gây UT được phân loại theo nguồn gốc, thành phần hoá học hoặc cách tác động của chúng. Ngoài ra chúng còn được phân loại do con người sản xuất ra hay có nguồn gốc tự nhiên. Nhóm hay gây UT là polycyclic aromatic hydrocarbon (hydrocarbon vòng).

  • Aflatoxin B1 là chất có khả năng gây UT gan cao…
  • Polycyclic hydrocarbon như 3,4 – benzpyrenne là thành phần quan trọng trong khói thuốc lá. Nhựa đường và các sản phẩm khi đốt than đá dùng trong công nghiệp cũng chứa nhiều hydrocarbon vòng.
  • Khói thuốc lá đã được cơ quan Quốc tế nghiên cứu về UT (International Agency for Research on Cancer – IARC) trực thuộc Tổ chức Y tế thÕ giíi (WHO) xếp vào các chất gây UT (carcinogen) bậc 1.
  • Khói thuốc được coi là chất độc hại nhất trong môi trường cư trú. Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khí và bụi. Theo WHO, trong khói thuốc có khoảng 4.000 chất hóa học, trong đó có 40 được xếp vào loại gây UT, gồm những chất như nicotin, mônôxít cacbon, hắc ín và benzen, fomanđêhít, amoniac, axeton, asen, xyanua hiđrô ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết gây ra bệnh tim mạch, giảm trí nhớ và các bệnh UT.

Tác nhân vật lý gây UT

Quan trọng nhất là các bức xạ ion hoá: tia cực tím, tia X, các bức xạ hạt nhân alpha, beta, gamma…

Tia cực tím thường gây UT da (UT tế bào đáy, tế bào gai, melanoma). Các loại UT này hay gặp ở những người làm việc ngoài ánh sáng mặt trời nhiều như ngư dân, nông dân và ở các phần thân thể phơi ngoài nắng như mặt lưng, bàn tay, chân… Người ta thấy người da đen ít bị UT da và ngược lại hay gặp ở người da trắng có thể do thiếu tác dụng bảo vệ của melanin; cơ chế của nó là gây đột biến ADN. UT da do tia cực tím phụ thuộc vào mức độ phơi nắng; cường độ bức xạ cực tím cao ở vùng cao nguyên, vùng núi.

Tia X được sử dụng nhiều trong y học. Khi tia X mới được sử dụng (năm 1895) do chưa biết tác hại của nó nên nhiều người đã bị UT.

Các tia xạ được dùng trong điều trị UT có thể gây UT thứ phát (nhưng chỉ xảy ra sau chiếu xạ từ 20 – 25 năm). Người ta thấy tỷ lệ UT da, UT máu và xương khá cao ở các nhà nghiên cứu về phóng xạ (kể cả Marie Curie) hay tỷ lệ UT phổi cao ở những công nhân mỏ uranium Joachimsthal (Balan) do hít phải bụi của quặng này. Còn ở nhà máy sử dụng radiophosphoras để vẽ mặt đồng hồ dạ quang, các nữ công nhân có thói quen liếm đầu bút để vẽ nên đã nuốt phải một liều nhỏ chất phóng xạ, do đó nhiều người bị UT xương (New Jersay- Mỹ 1931). Các nhà máy điện nguyên tử dùng đồng vị phóng xạ làm nhiên liệu, nếu không may xảy ra thảm họa như vụ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl 1986 ở Ucraina hoặc khi Mỹ thả 2 quả bom nguyên tử ở Nhật Bản năm 1945 (Hirosima và Nagasaki) đã gây rất nhiều tác hại; các bệnh UT máu, UT tuyến giáp tăng mạnh ở những người sống sót sau đó khoảng 10 năm.

Tác nhân sinh học gây UT

Một số loại nấm như Aspecgillus flavus, các ký sinh trùng như Schistosoma haematobium có thể gây UT bàng quang, Clonorchis sinensis gây UT gan, tuy nhiên các tác nhân này thường hiếm gặp.

Virus gây UT: virus có tính ký sinh nội bào, chúng chỉ có thể sinh sản bằng cách xâm nhập vào tế bào khác vì thiếu bộ máy ở mức tế bào để tự sinh sản. Virus là những tác nhân gây nhiễm trùng có kích thước nhỏ nhất (đường kính 20 – 300 nm) và trong bộ gene của chúng chỉ chứa một loại acid nucleic (ARN hoặc ADN). Acid nucleic được bao bọc trong lớp vỏ protein và bên ngoài cùng có thể được bao quanh một màng lipid. Toàn bộ phân tử virus được gọi là viron.

Một số loại virus có thể gây ra đột biến. Chúng đóng vai trò trong khoảng 15% các trường hợp ung thư. Virus khối u, chẳng hạn như virus viêm gan B, herpesvirus và papillomavirus, thường mang một gene UT hoặc một gene kìm hãm quá trình ức chế khối u trong bộ gene của chúng. Ví dụ như HPV có vai trò trong UT cổ tử cung là do phản ứng của protein HPV E6 và E7 với RB1 và p53 (gen ức chế u) làm cho virus sinh sôi trong tế bào.

Năm 1910 Whipple Rous là người đầu tiên đã tạo ra được khối u ở gà bằng cách tiêm các tế bào UT lấy từ dịch chiết ở khối u gốc. Nhiều năm sau nguyên nhân sinh UT đã được xác định là do ARN virus và gọi nó là sarcoma Rous. Từ đó đến nay nhiều khối u do khoảng 120 virus đã được phân lập từ các khối u của động vật.

Một số yếu tố khác gây UT

  • Chấn thương: Ambróie Paré là người đầu tiên cho rằng chấn thương có thể gây UT, một thống kê của hãng bảo hiểm Thuỵ sỹ cho thấy có 12 trường hợp UT nghi do chấn thương trên 7.500.000 tai nạn. Ở Mỹ cơ quan bồi thường lao động (New Jersey) thấy 6 trường hợp UT trên 56.000 tai nạn lao động.
  • Các chấn thương tâm lý: Parkes nhận thấy các nguyên nhân gây chết của những người chịu tang trong 6 tháng thì bệnh UT chiếm hàng đầu. Paoli thống kê thấy UT hay gặp ở phụ nữ goá chồng. Aimez cho rằng UT thường gặp sau một stress do ly dị, mất công việc, mất người thân trong gia đình. Zakhazin cho rằng: “giống nh­ư bệnh giang mai gây nên chứng tabét (tabes), sự sầu muộn gây nên bệnh UT”.
  • Thói quen sống: không hoạt động chân tay (tăng nguy cơ UT đại tràng, vú, và có thể các UT khác), tình trạng béo phì (tăng nguy cơ UT đại tràng, vú, nội mạc tử cung, và có thể các UT khác). Phơi nắng quá nhiều có thể bị UT da.
  •  Chế độ ăn uống: các thực phẩm chứa hóa chất (chất bảo quản, thuốc trừ sâu, phân bón hóa học…) làm tăng nguy cơ UT. Thói quen ăn uống thường giải thích cho sự khác biệt về tỷ lệ UT ở các nước (ví dụ như UT dạ dày hay gặp hơn ở Nhật Bản, trong khi ung thư đại tràng hay gặp hơn ở Mỹ). Các nghiên cứu đã chỉ ra người nhập cư cũng có nguy cơ UT giống như ở đất nước mới đến của họ, gợi ý có liên quan giữa ăn uống và UT hơn là cơ sở di truyền.

Một số thói quen ăn uống liên quan đến nguy cơ UT:

  • Chất béo tăng UT vú, đại tràng.
  • Dư thừa năng lượng: nguy cơ UT vú, tiền liệt, tử cung, đại tràng, túi mật.
  • Protein động vật, thịt đỏ: nguy cơ UT vú, tử cung, đại tràng.
  • Rượu (nhất là người nghiện thuốc lá): mặc dù không phải là chất sinh UT nhưng có thể gây UT đường hô hấp trên, miệng, thanh quản, thực quản, UT gan.
  • Thức ăn cháy: UT thực quản, dạ dày.
  • Béo phì, ít vận động tăng nguy cơ UT vú ở phụ nữ > 40 tuổi.

Dự phòng ung thư

Ngày nay người ta đã biết được một số tác nhân gây UT; đặc điểm dịch tễ của ung thư. Bệnh UT tiến triển mạn tính, theo nhiều giai đoạn. Nếu phát hiện sớm thì điều trị đạt hiệu quả rất tốt. Đó là cơ sở khoa học của phòng bệnh UT.

  • Dự phòng bước 1: hạn chế tiếp xúc với các tác nhân UT, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ từ môi trường, từ thói quen không tốt, từ ăn uống…
  • Dự phòng bước 2: phòng bệnh thứ cấp bằng sàng lọc và hạ thấp giai đoạn (chẩn đoán sớm).

 Dự phòng bước 1

Phòng ngừa UT là các biện pháp tích cực nhằm đề phòng, ngăn chặn và giảm tỷ lệ UT. Điều này có thể thực hiện bằng cách tránh các tác nhân sinh ung thư hay thay đổi lối sống và chế độ ăn uống nhằm ngăn ngừa các yếu tố gây UT hoặc can thiệp (hóa dự phòng, điều trị tổn thương tiền ác tính).

6 bước đơn giản phòng chống UT:

  • Bước 1: không hút thuốc lá.
  • Bước 2: đa dạng hóa thực phẩm; thực phẩm bổ dưỡng, tươi sống.
  • Bước 3: tích cực vận động và duy trì trọng lượng.
  • Bước 4: tránh nắng.
  • Bước 5: tự kiểm tra.
  •  Bước 6: dùng các khoáng chất tổng hợp.

Dự phòng bước 2: sàng lọc ung thư

Nên đi khám ngay khi thấy một trong những dấu hiệu sau:

  •  Đau không giảm đi sau vài tuần.
  • Có nốt ruồi hay mụn cơm ngày càng to, sẫm màu hoặc chảy máu.
  • Có u cục ở vú hoặc một nơi khác trong cơ thể.
  • Chảy máu bất thường ở âm đạo (đặt biệt là chảy máu giữa hai chu kỳ kinh nguyệt hay sau khi mạn kinh).
  • Nôn hoặc đi ngoài ra máu hay thay đổi về hoạt động tiêu hoá kéo dài.
  • Đi tiểu ra máu.
  • Kém ăn và rối loạn tiêu hoá kéo dài.
  • Khàn giọng hay ho kéo dài.
  • Khó nuốt.

– Sàng lọc UT: là thử nghiệm nhằm thăm dò các dạng UT nghi ngờ trong quần thể dân cư. Các thử nghiệm sàng lọc phù hợp phải có thể đáp ứng được cho một số lượng lớn người khỏe mạnh, an toàn, không xâm nhập đồng thời có tỷ lệ dương tính giả thấp chấp nhận được.

  • Mục tiêu chính của sàng lọc UT là giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong do một UT đặc biệt nào đó trong các cá thể được sàng lọc.
  • Nguyên tắc sàng lọc phụ thuộc vào bệnh UT: về dịch tễ, bệnh UT sàng lọc phải là phổ biến: tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong cao, có thể phát hiện được ở giai đoạn tiền lâm sàng. Sàng lọc phải được chứng minh góp phần giảm tỷ lệ tử vong.
  • Độ nhạy và độ đặc hiệu nói lên giá trị của test. Độ nhạy là khả năng test dương tính nếu có bệnh. Khi độ nhạy của test gia tăng, số bệnh nhân có bệnh được xác định là test âm tính (âm tính giả) giảm. Độ đặc hiệu là khả năng sàng lọc âm tính nếu bệnh thực sự không có. Một test có độ đặc hiệu cao khi tỷ lệ dương tính giả thấp. Giá trị dự báo phụ thuộc vào độ nhạy, độ đặc hiệu và tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ.
  • Lợi ích của sàng lọc: cải thiện tiên lượng với UT phát hiện được qua sàng lọc; có khả năng điều trị tận gốc hơn; làm yên tâm những người có kết quả âm tính; chi phí điều trị giảm do chẩn đoán sớm.

Nguồn: Bệnh viện 103

Tổng số điểm của bài viết là: 10 trong 2 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Blog khác của bác sĩ
Hỏi đáp có thể bạn quan tâm

Chăm sóc bệnh nhân ung thư sau hóa trị như thế nào?

Đương đầu với hành trình hóa trị ung thư không chỉ là sự khó khăn của người bệnh mà còn là thử thách với người thân. Làm thế nào để chăm sóc bệnh nhân ung thư trong quá trình hóa trị và tiếp thêm sức mạnh tinh thần cho người bệnh vượt qua những mệt mỏi về sức khỏe lẫn trở ngại tinh thần?

  •  4 năm trước
  •  0 trả lời
  •  996 lượt xem
Video có thể bạn quan tâm
NỘI SOI TẦM SOÁT UNG THƯ TIÊU HÓA TẠI BVĐK TÂM ANH: KHÔNG ĐAU ĐỚN, BUỒN NÔN, KHÓ CHỊU, KẾT QUẢ CHÍNH XÁC - CÓ NGAY TRONG NGÀY. NỘI SOI TẦM SOÁT UNG THƯ TIÊU HÓA TẠI BVĐK TÂM ANH: KHÔNG ĐAU ĐỚN, BUỒN NÔN, KHÓ CHỊU, KẾT QUẢ CHÍNH XÁC - CÓ NGAY TRONG NGÀY. 05:08
NỘI SOI TẦM SOÁT UNG THƯ TIÊU HÓA TẠI BVĐK TÂM ANH: KHÔNG ĐAU ĐỚN, BUỒN NÔN, KHÓ CHỊU, KẾT QUẢ CHÍNH XÁC - CÓ NGAY TRONG NGÀY.
Với dàn máy nội soi hiện đại tại BVĐK Tâm Anh, bác sĩ có thể phát hiện các tổn thương rất nhỏ chỉ vài milimet, thu thập mẫu sinh thiết...
 5 năm trước
 2066 Lượt xem
GIẢM TỚI 50% TẦM SOÁT UNG THƯ - DUY NHẤT THÁNG 3 GIẢM TỚI 50% TẦM SOÁT UNG THƯ - DUY NHẤT THÁNG 3 01:17
GIẢM TỚI 50% TẦM SOÁT UNG THƯ - DUY NHẤT THÁNG 3
Phát hiện sớm ung thư & gần 50 bệnh lý42 danh mục khám toàn diện️
 5 năm trước
 940 Lượt xem
Tin liên quan
Ung thư buồng trứng
Ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng xảy ra khi tế bào không bình thường phát triển trong một hoặc cả hai buồng trứng của bạn. Buồng trứng là hai tuyến nhỏ, nằm ở hai bên tử cung.

Thuốc nhuộm tóc có gây ung thư không? Chuyên gia lên tiếng
Thuốc nhuộm tóc có gây ung thư không? Chuyên gia lên tiếng

Ngày càng nhiều phụ nữ, cũng như một số ít nam giới (nhưng số lượng tăng dần) sử dụng thuốc nhuộm tóc. Có lẽ bạn từng nghe những lời đồn thổi về việc thuốc nhuộm tóc gây ung thư? Không ít các nghiên cứu coi thuốc nhuộm tóc như một yếu tố rủi ro có thể dẫn tới nhiều loại bệnh ung thư. Bài viết dưới đây sẽ thảo luận về những điều mà nghiên cứu chỉ ra để chúng ta có thể yên tâm đưa ra quyết định.

Những Lưu Ý Khi Quan Hệ Tình Dục Ở Bệnh Nhân Bị Ung Thư
Những Lưu Ý Khi Quan Hệ Tình Dục Ở Bệnh Nhân Bị Ung Thư

Quan hệ tình dục là một nhu cầu sinh lý bình thường ở tất cả mọi người bao gồm cả những bệnh nhân ung thư. Vậy bệnh nhân ung thư thường có những vấn đề gì khi quan hệ tình dục, hãy cùng tìm hiểu qua bài viết dưới đây!

Dr Duy Thành

 

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây