Xử trí phù não trong đột quỵ thiếu máu cấp
1. Dấu hiệu nhận biết phù não trong đột quỵ thiếu máu cấp
Phù não là một biến chứng thần kinh cấp tính trong đột quỵ thiếu máu não, tình trạng này thường xuất hiện sau đột quỵ 2 - 3 giờ, đạt mức tối đa sau 24 giờ và tồn tại từ 5 - 10 ngày. Hậu quả của phù não đó là làm tăng áp lực nội sọ, làm giảm áp lực tưới máu não, có thể gây tụt, kẹt não gây nguy hiểm tới tính mạng người bệnh. Chính vì vậy cần phải điều trị tích cực.
Các biểu hiện của phù não có thể trùng với các triệu chứng của đột quỵ thiếu máu não, khiến cho việc phát hiện gặp khó khăn. Các triệu chứng của phù não có thể gặp như là:
- Bệnh nhân đau đầu, cổ
- Cảm giác buồn nôn hoặc nôn
- Bệnh nhân cảm thấy chóng mặt
- Bị mất trí nhớ, ý thức
- Bệnh nhân nói khó, khó di chuyển
- Bệnh nhân bị co giật
- Bệnh nhân bị mất thị lực
Ngoài các biểu hiện lâm sàng như trên, các bác sĩ sẽ dựa vào hình ảnh chụp CT não hoặc MRI não để dự đoán khả năng bị phù não của bệnh nhân đột quỵ thiếu máu cấp. Trong đó CT scan não không cản quang là lựa chọn hàng đầu để chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân có phù não do nhồi máu bán cầu hoặc tiểu não. CT tiếp theo trong 2 ngày đầu là biện pháp hữu ích để xác định người bệnh có nguy cơ cao phát triển triệu chứng phù. Bệnh nhân được dự đoán phù não khi: CT não 6 giờ đầu có hình giảm đậm độ, diện tích ổ nhồi máu ≥ 1/3 MCA và hình ảnh lệch đường giữa là dấu hiệu hữu ích trong dự đoán phù não. Trên hình ảnh chụp CT não nếu thấy trên 50% vùng tưới máu của động mạch não giữa bị tổn thương trong vòng dưới 12 giờ đột quỵ. Đo thể tích MRI DWI trong 6 giờ đầu là hữu ích, nếu thể tích > 80ml thì dự đoán tiến triển bệnh sẽ rất nhanh.
2. Điều trị phù não do đột quỵ thiếu máu não
2.1. Các phương pháp điều trị không đặc hiệu
Đặt bệnh nhân phù não do thiếu máu cấp ở tư thế nằm đầu cao 300 nhằm tránh cản trở máu tĩnh mạch trở về. Phương pháp này có thể làm giảm áp lực nội sọ từ 7 - 10mmHg.
Kiểm soát thân nhiệt bệnh nhân: Giữ nhiệt độ bệnh nhân dưới 360C và nhiệt độ phòng từ 22 - 260C. Mục đích của việc làm này để giảm sự chuyển hóa năng lượng, ức chế giải phóng Glutamat và các gốc tự do trong cơ thể.
Cung cấp đủ oxy cho bệnh nhân: Mục tiêu đạt SpO2 > 95% hay đo khí động mạch PaO2 > 65mmHg.
Chống kích thích và co giật: Bởi vì bệnh nhân càng kích thích, càng co giật thì càng thiếu oxy dẫn đến tăng phù não gây rối loạn chuyển hóa, trở thành một vòng xoắn bệnh lý. Có thể sử dụng Barbiturat với liều dùng từ 5 - 6 mg/kg/ngày, không dùng quá 3 - 5 ngày. Loại thuốc này vừa có tác dụng chống co giật, vừa có tác dụng làm giảm áp lực trong sọ, do làm giảm chuyển hóa, giảm lưu lượng máu não, giảm sử dụng oxy, phân bố lại máu từ khu não lành về khu não bị tổn thương theo hiệu ứng thể tích đảo ngược Robin Hood, ổn định màng tế bào, giảm tiết dịch não tủy, trung hòa gốc tự do,... Tuy nhiên cần chú ý tình trạng suy hô hấp và trụy tim mạch.
Cần duy trì áp lực tưới máu não > 70mmHg để giữ áp lực trong sọ < 20mmg. Giữ áp lực động mạch và áp lực thẩm thấu huyết tương ở mức hợp lý.
2.2. Các phương pháp điều trị đặc hiệu chống phù não
Liệu pháp thẩm thấu bằng mannitol: Đây là thuốc có tác dụng tốt nhất để chống phù não. Mannitol kéo nước từ khoảng gian bào vào lòng mạch do đó làm giảm độ nhớt của máu gây tăng lưu huyết, đồng thời nó còn có tác dụng làm tăng huyết áp.
Huyết thanh mặn ưu trương: Có tác dụng hút nước gian bào qua đó làm giảm áp lực nội sọ, giảm độ nhớt của máu, tăng lưu lượng máu. Nhiều ý kiến cho rằng, nên dùng huyết thanh mặn 3% trong nhiều ngày để chống phù não cho bệnh nhân đột quỵ.
Dẫn lưu dịch não - tủy: Đây là phương pháp đưa một ống thông vào não thất để dẫn lưu. Tuy nhiên hiệu quả của phương pháp này còn hạn chế và tiềm ẩn nguy cơ gây nhiễm khuẩn não - màng não gây nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân.
Phẫu thuật mở hộp sọ giảm áp: Trong trường hợp đột quỵ do nhồi máu ở gốc động mạch não giữa hoặc não trước gây phù não rộng thì phẫu thuật mở hộp sọ để giảm áp lực nội sọ cần được xem xét tiến hành, khi các biện pháp điều trị nội khoa không có kết quả.
Tăng thông khí phổi hợp lý làm giảm áp lực trong sọ, phương pháp này có tác dụng làm co mạch não và giảm thể tích não. Các chuyên gia khuyến cáo nên giữ PaCO2 từ 30 - 35mmHg. Tuy nhiên nếu tăng thông khí phổi quá mức PaCO2 < 30mmHg có nguy cơ co mạch và làm giảm áp lực tưới máu não.
Phù não trong đột quỵ thiếu máu cấp là một trong những biến chứng thần kinh cấp tính gây nguy hiểm tới tính mạng của bệnh nhân, do đó cần được phát hiện và xử lý kịp thời. Nên đưa bệnh nhân đến các bệnh viện có đầy đủ các trang thiết bị cùng đội ngũ bác sĩ giỏi để việc điều trị được tốt nhất, tránh những biến chứng không đáng có.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 1046 lượt xem
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.
Một trong các biện pháp để điều trị thiếu máu là điều chỉnh lại chế độ ăn uống. Người bị thiếu máu cần ăn nhiều thực phẩm giàu sắt và các vitamin khác cần thiết cho quá trình sản xuất hemoglobin và hồng cầu.
Sắt là một khoáng chất cần thiết trong cơ thể con người. Sắt tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu – các tế bào máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Nồng độ sắt thấp hay thiếu sắt sẽ gây mệt mỏi và làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ sắt quá cao?
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Bổ sung sắt hàng ngày là biện pháp để kiểm soát tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Có thể tăng lượng sắt cho cơ thể bẳng cách ăn nhiều thực phẩm giàu sắt hoặc dùng chế phẩm bổ sung sắt.





