Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập173
  • Máy chủ tìm kiếm22
  • Khách viếng thăm151
  • Hôm nay49,391
  • Tháng hiện tại1,800,449
  • Tổng lượt truy cập43,653,732

Xơ vữa động mạch - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

1. Khái niệm

  • Vữa xơ động mạch là một chứng bệnh có tính chất không có biểu hiện viêm nhiễm khuẩn, tiến triển và tăng sinh làm cho thành động mạch dày lên, cứng, mất tính đàn hồi và chít hẹp lòng mạch.
  • Đặc điểm gây bệnh của vữa xơ động mạch là ảnh hưởng đến nhiều loại bệnh tật ở nội mạc động mạch; trong đó bao gồm hình thành tích tụ tại chỗ chất béo và phức hợp đường, xuất huyết và huyết khối, tăng sinh tổ chức fibrin và lắng đọng calci; đồng thời trung mạc động mạch dần dần thoái hóa và calci hóa. Khi quan sát chất béo tích tụ ở nội mạc động mạch thấy có màu vàng, hình thể như cháo nên gọi là vữa xơ động mạch.
  • Bệnh vữa xơ động mạch chủ yếu gặp ở vữa xơ động mạch chủ, động mạch vành, động mạch não, động mạch thận, hệ thống động mạch ở ruột và động mạch ở tứ chi.
  • Bệnh vữa xơ động mạch là một chứng bệnh hay gặp. Trên lâm sàng hay gặp tắc mạch, giảm tính đàn hồi thành mạch ở động mạch vành và động mạch não. Có thể gây nên tăng huyết áp. Bệnh tiến triển chậm nhưng hậu quả thì lại nghiêm trọng và là nguyên nhân trọng yếu gây nên bệnh lý tim mạch.

2. Chẩn đoán

2.1. Lâm sàng

  • Biểu hiện thông thường: giai đoạn đầu thường không thấy triệu chứng, đôi khi thấy giảm trí nhớ, mệt mỏi; sờ động mạch cảnh, động mạch đùi… có thể thấy động mạch to hơn, căng hơn và cứng hơn.
  • Vữa xơ động mạch vành: diễn biến bệnh nhẹ thì không thấy biểu hiện thiếu máu cơ tim. Khi thiếu máu điển hình mới thấy một loạt các biểu hiện như đau thắt ngực, suy tim, rối loạn nhịp tim. Khi tắc hoàn toàn động mạch vành làm tổn thương cơ tim và hoại tử, trên lâm sàng sẽ thấy biểu hiện của nhồi máu cơ tim.
  • Vữa xơ động mạch não: thiếu máu não gây huyễn vựng, đau đầu, hôn mê. Trên cơ sở vữa xơ động mạch não mà gây nhồi máu não hoặc xuất huyết não thì sẽ thấy các biểu hiện: đau đầu, chóng mặt, nôn, rối loạn ý thức, liệt chi thể, rối loạn ngôn ngữ. Giai đoạn sau của teo não có thể thấy các biểu hiện bệnh lý tâm thần như rối loạn hành vi, rối loạn trí nhớ, rối loạn tính cách…

2.2. Cận lâm sàng

  • Sinh hóa máu: rối loạn chuyển hóa lipid máu (cholesterol tăng, triglycerid tăng, LDL tăng, HDL giảm).
  • Lưu biến học: độ quánh máu tăng.
  • Chụp mạch thấy vị trí hẹp ở động mạch tương ứng.
  • Siêu âm Doppler phán đoán lưu lượng tuần hoàn.
  • Chụp MRI (magnetic resonance imaging) phán đoán chức năng mạch não và tổn thương tổ chức não.
  • Siêu âm tim, điện tim thường, điện tim gắng sức giúp cho phán đoán mức độ tổn thương của vữa xơ động mạch.

3. Chẩn đoán phân biệt

3.1. Cơn đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim

  • Đau thần kinh liên sườn: đau tại 1 – 2 gian sườn và đau không giới hạn ở vùng trước tim, đau có tính chất buốt nhói nhưng không liên quan đến cáu giận. Khi bệnh nhân hít sâu, ho, cử động thân mình đều có thể làm đau tăng, ấn dọc đường đi của thần kinh gian sườn thì đau.
  • Rối loạn chức năng thần kinh tim: đau tức ngực, đau không cố định, thời gian đau chỉ vài giây hoặc vài tiếng mới hết. Bệnh nhân thường thích thở dài, đau tức xuất hiện khi mệt mỏi nhưng không liên quan đến gắng sức; đôi khi lao động nhẹ nhàng lại hết đau, có thể lao động nặng cũng không làm đau tăng lên. Khi xuất hiện đau tức ngực, dùng thuốc giãn mạch vành không có hiệu quả. 
  • Các nguyên nhân khác gây đau thắt ngực: hẹp hoặc hở động mạch chủ, thấp tim, viêm động mạch chủ sau giang mai gây chít hẹp hoặc tắc động mạch vành… đều gây nên đau thắt ngực. Lúc này, phải căn cứ vào biểu hiện lâm sàng, kiểm tra cận lâm sàng để phân biệt.

3.2. Vữa xơ động mạch não

  • Đau đầu do căn nguyên mạch: bệnh xuất hiện có tính chu kỳ, thường gặp ở tuổi thanh xuân, nữ gặp nhiều hơn nam, sau tuổi trung niên bệnh giảm dần; đau có tính chất như châm, chích; kèm theo sợ ánh sáng và nhắm mắt, thời gian đau vài giờ hoặc vài ngày.
  • Suy nhược thần kinh: giảm sức làm việc trí óc và chân tay, rất dễ gây mệt, hiệu quả làm việc giảm sút, rối loạn giấc ngủ, xét nghiệm không thấy rối loạn đặc hiệu.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây