Xét nghiệm máu để kiểm tra nồng độ hormone Gastrin
1. Hormone Gastrin là gì?
Gastrin là một hormone có dạng polypeptide được sản xuất và dự trữ ở tế bào G (G-cells) ở hang vị, môn vị dạ dày và các tế bào đảo tụy Langerhan. Gastrin là hormon mà dạ dày tạo ra nhằm kích thích các tế bào thành sản xuất và giải phóng axit dạ dày. Nồng độ PH của dịch vị thấp giúp cơ thể tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng trong thức ăn, đặc biệt là protein và axit amin. Thông thường, dạ dày tạo ra 2 đến 3 lít chất lỏng axit mỗi ngày.
Gastrin được tế bào G tăng tiết khi có những đáp ứng sau:
- Khi có sự xuất hiện các phân từ protein, canxi hoặc rượu tiếp xúc với niêm mạc dạ dày
- Động tác nuốt, ngửi hoặc nếm thức ăn làm kích thích dây thần kinh phế vị.
- Khi hang vị bị căng ra do chứa thức ăn bên trong
- Nồng độ PH trong dạ dày giảm, sự tiết axit dạ dày hoạt động theo cơ chế feedback âm, khi nồng độ PH quá cao (có tính kiềm) sẽ kích thích tiết Gastrin giúp tăng tiết axit dạ dày và ngược lại khi nồng độ PH quá thấp sẽ ức chế sự tiết Gastrin và giảm tiết axit.
Bên cạnh đó, Gastrin cũng được giải phóng do sự kích thích của các enzym tuyến tụy, pepsin của dịch vị và một số yếu tố của gan làm tăng nhu động ruột dạ dày trong quá trình tiêu hoá thức ăn.
2. Xét nghiệm đánh giá nồng độ Gastrin máu là gì?
Đây là một xét nghiệm máu đơn giản để kiểm tra việc cơ thể sản xuất quá mức hormone gastrin. Nếu chúng quá cao hoặc quá thấp, bạn có thể gặp vấn đề với hệ tiêu hóa. Bạn có thể được chỉ định xét nghiệm nếu bạn có các triệu chứng như đau dạ dày, tiêu chảy hoặc loét dạ dày tái phát trở lại.
Kết quả định lượng nồng độ Gastrin giúp bác sĩ có được những thông tin hữu ích nhằm chuẩn đoán các bệnh lý gây tiết gastrin bất thường như u tế bào tăng tiết Gastrin (Gastrinoma), khối u tiết Gastrin trong hội chứng Zollinger-Ellison, loét dạ dày tá tràng, thiếu máu ác tính Biermer.
Ngoài ra, bác sĩ cũng có thể sử dụng test kích thích tiết Gastrin (provocative testing) để đánh giá chức năng tiết gastrin của dạ dày, giúp phân biệt bệnh loét dạ dày với hội chứng Zollinger-Ellison. Bên cạnh đó, bác sĩ cũng có thể yêu cầu xét nghiệm gastrin nếu bạn đã cắt bỏ khối u sản xuất gastrin, đây là một xét nghiệm giúp theo dõi sự tái phát của khối u.
Chỉ định chính của xét nghiệm Gastrin là định lượng nồng độ Gastrin giúp chẩn đoán nhiều loại bệnh lý dạ dày và làm rõ tình trạng tiết Gastrin từ khối u (hội chứng Zollinger-Ellison)
3. Cách thực hiện xét nghiệm Gastrin máu
Trước khi thực hiện xét nghiệm Gastrin máu thì bạn cần phải nhịn ăn trong 12 giờ trước đó. Bạn có thể uống nước, nhưng không được ăn bất kỳ thực phẩm nào trong thời gian này. Bạn cũng nên tránh uống rượu trong ít nhất 24 giờ trước khi thực hiện xét nghiệm. Hãy chắc chắn chia sẻ với bác sĩ về bất kỳ loại thuốc hoặc chất bổ sung nào bạn dùng, bao gồm vitamin và thảo dược, cũng như thuốc kê đơn và thuốc không kê đơn. Hoặc bạn đang gặp phải một số vấn đề, có tiền sử bệnh:
- Đã hoặc đang có kế hoạch phẫu thuật loét dạ dày tá tràng
- Ăn một chế độ ăn giàu protein
- Bị bệnh tiểu đường và dùng insulin
- Uống bổ sung canxi, thuốc kháng axit hoặc các loại thuốc khác có thể ảnh hưởng đến khả năng sản xuất axit dạ dày
- Uống cà phê
- Uống thuốc chống trầm cảm
Ngoài việc định lượng nồng độ Gastrin máu, bác sĩ cũng có thể sử dụng test kích thích tiết gastrin (provocative testing), như truyền tĩnh mạch canxi gluconat hoặc tiêm secretin được sử dụng để phân biệt loét dạ dày tá tràng với hội chứng Zollinger-Ellison.
- Test kích thích tiết gastrin sau tiêm secretin (gastrin test after secretin) tiêm 2 -3 u/kg secretin trong vòng 30 giây là test kích thích thường được sử dụng đối với các bệnh nhân có nghi vấn bị hội chứng Zollinger- Ellison.
- Định lượng nồng độ gastrin huyết thanh nền và sau test kích thích bằng secretin là thăm dò cận lâm sàng tốt nhất đối với u tế bào tiết gastrin (gastrinoma).
- Test kích thích tiết gastrin (gastric stimulation test) sau khi truyền canxi tĩnh mạch (15 mg Ca/kg pha trong 500 mL dịch muối sinh lý trong vòng 4 giờ) rất hữu ích ở các bệnh nhân có tình trạng tăng rõ rệt nồng độ gastrin máu. Test này được chỉ định cho các bệnh nhân có test kích thích tiết secretin âm tính, tăng tiết acid dịch vị và lâm sàng nghi vấn có hội chứng Zollinger- Ellison.
4. Các yếu tố làm ảnh hưởng thay đổi kết quả xét nghiệm Gastrin máu
Mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu có thể làm thay đổi kết quả xét nghiệm. Nồng độ gastrin huyết thanh dao động theo nhịp ngày đêm (thấp nhất vào buổi sáng sớm và cao nhất trong ngày).
Kết quả tăng nồng độ gastrin giả tạo có thể xảy ra khi máu có hàm lượng lipid cao hay bệnh nhân ăn các thức ăn chứa nhiều protein. Theo đó, các thuốc có thể làm tăng nồng độ gastrin máu là: Acetylcholin, thuốc trung hòa acid dịch vị, thuốc chẹn beta giao cảm, canxi cacbonat, canxi clorid, thuốc cường cholin [cholinergics], cimetidin, famotidin, ranitidin, insulin, nizatidin, thuốc ức chế bơm proton.
Các thuốc có thể làm giảm nồng độ gastrin máu là: Thuốc block giao cảm (adrenergic blockers), thuốc kháng cholin (anticholinergics), caffeine, muối canxi, corticosteroid, ethanol, rauwolfia serpentina, reserpin, thuốc chống trầm cảm ba vòng.
5. Nhận định kết quả xét nghiệm hormone gastrin
Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến kết quả kiểm tra. Theo đó, kết quả cũng có thể thay đổi tùy thuộc vào kit xét nghiệm và phạm vi tham chiếu phòng xét nghiệm đó sử dụng. Nói chung, phạm vi bình thường cho mức gastrin là:
- 0-180 pg / mL (picogram trên mililít máu) đối với người lớn (tỷ lệ này có thể cao hơn ở người lớn tuổi)
- 0-125 pg / mL cho trẻ em
Mức độ gastrin quá cao có thể gây ra bởi một tình trạng gọi là hội chứng Zollinger-Ellison (ZE). Điều này có thể là bạn có một khối u trong hệ thống tiêu hóa tiết ra gastrin. Những khối u này được gọi là u dạ dày. Chúng thường nằm ở phần đầu tiên của ruột non (tá tràng) hoặc trong tuyến tụy. Lượng Gastrin gia tăng có thể gây ra nhiều axit trong hệ thống tiêu hóa. Điều này có thể kích hoạt các triệu chứng gây tiêu chảy và có thể dẫn đến loét trong dạ dày và ruột non.Cho đến nay, hai nguyên nhân phổ biến nhất của nồng độ gastrin cao là thuốc chống axit bạn dùng để điều trị trào ngược hoặc ợ nóng và một tình trạng gọi là viêm dạ dày teo mãn tính. Cả hai đều có thể làm tổn thương niêm mạc dạ dày và chúng cũng khiến dạ dày tạo ra ít axit hơn. Trong những bệnh lý này, mức độ gastrin tăng lên vì độ pH của dạ dày quá cao (kiềm).
Khi bác sĩ nghi ngờ bạn bị u tế bào tiết gastrin (gastrinoma),, bệnh cảnh lâm sàng kết hợp giữa tình trạng tăng tiết mạnh axit dịch vị với tăng nồng độ gastrin máu rất cao lên đến 500 -1000 pg/mL. Các trường hợp tăng vừa phải nồng độ gastrin cần được loại trừ đi tình trạng tế bào G bị tăng mẫn cảm và tăng sản tế bào G bằng cách tiến hành làm test kích thích tiết gastrin.
Nếu bạn bị u dạ dày đã được cắt bỏ thông qua phẫu thuật và kết quả xét nghiệm cho thấy sự gia tăng của gastrin, điều đó có nghĩa là khối u đã trở lại. Nếu mức độ gastrin không giảm xuống sau khi phẫu thuật, điều đó có nghĩa là thủ thuật đã không thành công.
Một số nguyên nhân thường gặp của tăng nồng độ Gastrin máu thường là:
- Người già: được coi là có tình trạng tăng "sinh lý" theo tuổi do có tới 15% người bình thường > 60 tuổi có nồng độ gastrin máu 100-800 pg/mL.
- Dạ dày không có axit clohydric trong dịch vị (achlorhydria).
- Giảm axit clohidric dịch vị (hypochlorhydria). Tình trạng này được gặp trong các bệnh lý như viêm dạ dày thể teo (atrophic gastritis), thiếu máu ác tính Biermer, sau cắt thần kinh phế vị.
- Bệnh loét dạ dày tá tràng
- Tăng sản các tế bào G (G-cell hyperplasia) của hang vị.
- Bệnh thận giai đoạn cuối
- Cường cận giáp trạng gây tăng canxi máu.
- Ung thư dạ dày
- Hẹp môn vị
- Hội chứng tăng ure máu
- Sử dụng các thuốc gây ức chế axit dịch vị như thuốc trung hòa axit dịch vị, thuốc kháng H2 (Vđ: ranitidin, famotidin) hay thuốc ức chế bơm proton (Vd: esomeprazol, omeprazol).
- Hội chứng Zollinger-Ellison.
Rất hiếm khi kết quả xét nghiệm cho nồng độ gastrin quá thấp. Nhưng nếu có, dạ dày của bạn có thể không hấp thụ chất dinh dưỡng đúng cách. Bạn cũng có thể có nguy cơ nhiễm trùng cao từ hệ thống tiêu hóa. Nồng độ Gastrin trong phạm vi bình thường hoặc thấp thường không phải là những tình trạng đáng lo ngại.
Ho rát họng có đờm là một vấn đề phổ biến có thể gặp ở bất kỳ ai. Nguyên nhân của tình trạng này có thể là viêm amidan, cảm cúm, viêm họng, thậm chí là ung thư vòm họng.
Viêm phế quản là một bệnh lý phổ biến trong xã hội ngày nay mà nhiều người có thể mắc phải. Tuy viêm phế quản không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng có thể ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe của người bệnh.
Ho, sốt đau họng là những triệu chứng thường gặp cùng lúc và có thể ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày. Bài viết dưới đây sẽ làm rõ nguyên nhân, cách nhận biết và những phương pháp hiệu quả để giảm nhẹ và xua tan những triệu chứng này.
Là một phần quan trọng của hệ hô hấp, họng thường mắc phải nhiều bệnh lý khác nhau. Các bệnh về họng có thể đơn giản chỉ là viêm họng hoặc có thể nghiêm trọng hơn như viêm amidan, viêm thanh quản và thậm chí ung thư họng.
Thời điểm giao mùa, các trung tâm Y tế đang ghi nhận nhiều trường hợp bệnh nhi mắc viêm phổi do vi khuẩn Mycoplasma. Đây là một bệnh thường xuất hiện trong mùa giao mùa, đặc biệt làm lây lan nhanh chóng.
Nếp gấp màu trắng trên mí mắt sau 6 tháng cắt mí
Dạ em có cắt mí được 6 tháng rồi ạ. Thì sau khi cắt mí 6 tháng, ở mắt phải (mắt khoanh tròn) em thấy có nếp gấp màu trắng ở đó còn mắt trái không có. Em không biết sau này có hết không ạ? Ảnh em nhắm mắt là sau 4 tháng thì cả hai mắt có đường màu trắng nhưng sau thì mắt trái hết rồi ạ. Và có một thắc mắc khác là lúc em cắt chỉ sau 7 ngày thì thấy mắt phải (mắt khoanh tròn), đường mí không vào đầu mắt ạ, còn mắt trái thì vào đầu mắt nên tự nhiên hơn, em không biết sau này nếu sửa lại thì có sửa cho mí mắt phải vào đầu mắt được không ạ?
- 0 trả lời
- 897 lượt xem
Ferritin là một loại protein dự trữ sắt và giải phóng sắt khi cơ thể cần. Ferritin tập trung chủ yếu trong các tế bào và chỉ có một lượng rất nhỏ lưu thông trong máu.
Xét nghiệm sắt huyết thanh giúp phát hiện nồng độ sắt trong máu thấp hoặc cao hơn bình thường.
Sắt là một khoáng chất cần thiết trong cơ thể con người. Sắt tham gia vào quá trình hình thành hồng cầu – các tế bào máu có nhiệm vụ vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Nồng độ sắt thấp hay thiếu sắt sẽ gây mệt mỏi và làm giảm khả năng chống lại nhiễm trùng của cơ thể. Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi nồng độ sắt quá cao?
Bệnh thiếu máu ác tính thường tiến triển chậm. Bệnh này gây ra các triệu chứng tương tự như các hiện tượng mà chúng ta thi thoảng vẫn hay gặp phải nên thường khó phát hiện.
Thiếu máu là tình trạng không có đủ hồng cầu khỏe mạnh để vận chuyển oxy đi khắp cơ thể. Thiếu sắt là nguyên nhân phổ biến dẫn đến thiếu máu.





