Viêm tụy mạn: Điều trị thế nào?
1. Viêm tụy mạn nguy hiểm thế nào?
Khi không điều trị viêm tụy mạn tích cực có thể dẫn đến tử vong tới 50% trong vòng 20-25 năm, 15-20% tử vong do các biến chứng cho sức khỏe, bao gồm:
- Nang giả tụy (Pseudocyst): Nang lớn vỡ có thể gây ra các biến chứng như chảy máu nội tạng và nhiễm trùng.
- Nhiễm trùng: Làm cho tuyến tụy dễ bị nhiễm khuẩn và nhiễm trùng. Nhiễm trùng tụy là trường hợp cực kỳ nghiêm trọng và cần điều trị chuyên sâu để loại bỏ các mô bị nhiễm bệnh.
- Bệnh tiểu đường: Các tế bào sản xuất insulin bị tổn thương do tác động của viêm tụy có thể dẫn đến bệnh tiểu đường
- Suy dinh dưỡng: Cả viêm tụy cấp và viêm tụy mãn tính có thể khiến cho tuyến tụy sản xuất ít các enzyme cần thiết có chức năng phá vỡ, xử lý các chất dinh dưỡng trong các thực phẩm bạn ăn hàng ngày. Điều này có thể dẫn đến suy dinh dưỡng, tiêu chảy và sút cân.
- Bệnh ung thư tuyến tụy: Viêm tụy mãn tính được xem là một trong những yếu tố nguy cơ gây ung thư tuyến tụy, chiếm 4% trong số nguyên nhân gây tử vong.
2. Viêm tụy mạn có chữa được không?
Với những người đang có nguy cơ và đã mắc bệnh viêm tụy mạn tính thì việc viêm tụy mạn tính có chữa được không là một thắc mắc lớn. Viêm tụy mạn tính là bệnh thường gặp do viêm tụy cấp không chữa trị kịp thời, chữa không dứt điểm hoặc chữa không đúng (dùng thuốc không rõ nguồn gốc).
Mặc dù tình trạng đau trong bệnh viêm tụy thường tự biến mất nhưng viêm tụy mạn tính có thể là một tình trạng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời.
Tùy vào mức độ nghiêm trọng và tần suất các triệu chứng ở mỗi người bệnh, các bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị khác nhau. Thời gian sống và mức độ hồi phục phụ thuộc nhiều vào việc điều trị bệnh và sự thay đổi lối sống của người bệnh.
3. Điều trị viêm tụy mạn như thế nào?
Mục tiêu điều trị viêm tụy mạn tính bao gồm giảm đau; phòng ngừa các triệu chứng tái phát; điều trị các biến chứng như tiểu đường và suy dinh dưỡng, làm tăng khả năng ăn và tiêu hóa của bệnh nhân.
3.1. Điều trị nội khoa
Người bệnh cần thay đổi chế độ ăn kiêng, bao gồm hạn chế chất béo, ăn các bữa ăn nhỏ hơn (nhưng thường xuyên hơn) và hạn chế caffeine. Rượu bị cấm bởi vì rượu thường làm thúc đẩy những đợt viêm cấp. Nên tránh dùng thuốc ngủ nếu có thể.
Đi ngoài phân mỡ được điều trị bằng các chế phẩm tụy được lựa chọn dựa trên hoạt độ lipase cao. Liều thông thường là 30.000 đơn vị lipase trong viên nang được dùng trước, trong bữa ăn. Dùng đồng thời natri bicarbonat 650 mg trước và sau bữa ăn, các thuốc đối kháng receptor H2 (như ranitidin 150mg x 2 lần/ngày) hoặc ức chế bơm proton (như omeprazol 20 - 60 mg/ngày) làm giảm sự bất hoạt của lipase bởi acid và vì vậy có thể làm giảm đi ngoài phân mỡ.
Đau thứ phát do viêm tụy mạn tính tự phát có thể giảm ở một số trường hợp bằng cách dùng các enzym tụy hoặc thuốc giảm đau. Nếu có đái tháo đường đi kèm thì cần được điều trị theo cách thông thường bằng việc dùng insulin.
3.2. Điều trị ngoại khoa bằng phẫu thuật và nội soi
Phẫu thuật loại trừ tắc nghẽn ống tụy: Phẫu thuật có thể được chỉ định trong viêm tụy mạn tính để dẫn lưu những nang giả dai dẳng, điều trị các biến chứng khác, hoặc hiếm hơn là để làm giảm đau. Những mục tiêu của can thiệp phẫu thuật là để loại trừ bệnh đường mật, đảm bảo dòng lưu thông mật vào tá tràng và loại trừ tắc nghẽn ống tụy.
Phương pháp dẫn lưu ống tụy: Khi tắc nghẽn ống tụy ở đoạn cuối của tá tràng được phát hiện qua chụp tụy đường mật ngược dòng qua nội soi, làm giãn ống, hoặc cắt đuôi tụy với gắn đầu xa của ống bằng phẫu thuật nối thông tụy - hỗng tràng. Khi ống tụy bị giãn lan tỏa thì nối kết giữa ống sau khi nó được tách ra theo chiều dọc và bờ mất chức năng của hỗng tràng (thủ thuật Puestow thay đổi), trong một số trường hợp nếu kết hợp với cắt bỏ khu trú đầu tụy sẽ làm giảm đau ở 80% các trường hợp.
Phương pháp cắt tụy: Những trường hợp bệnh tiến triển, cắt tụy toàn phần hoặc bán phần có thể được cân nhắc như là cách cuối cùng nhưng có kết quả khác nhau và khả năng cao dẫn tới thiểu năng tụy. Dẫn lưu phẫu thuật hoặc nội soi được chỉ định cho những nang giả có triệu chứng. Thử nghiệm gần đây gợi ý rằng cổ trướng do tụy hoặc rò tụy màng phổi do ống tụy bị vỡ có thể được xử trí bằng đặt lưới qua nội soi ngang qua ống bị vỡ. Nghiền sỏi trong ống tụy bằng thủ thuật tán sỏi và lầy bỏ sỏi nội soi từ ống tụy, cắt cơ thắt tụy hoặc dẫn lưu nang giả, có thể làm giảm đau ở một số bệnh nhân.
Phương pháp phong bế cắt đám rối thần kinh qua đường nội soi: Với những bệnh nhân bị đau mạn tính và ống không bị giãn, thì phong bế đám rối thần kinh bụng qua da có thể được cân nhắc nhưng kết quả thường gây thất vọng.
Nội soi mật tụy ngược dòng là kỹ thuật nội soi ít xâm lấn, được sử dụng để chẩn đoán và điều trị nhiều bệnh lý khác nhau như chẩn đoán viêm tụy cấp do sỏi kẹt tại bóng Vater, giun chui ống mật, sỏi đường mật,... Hãy cùng các chuyên gia của tìm hiểu rõ hơn về kỹ thuật này qua bài viết dưới đây.
Túi thừa đại tràng là bệnh lý khá phổ biến, đặc biệt là sau tuổi 40. Khi túi thừa đại tràng bị viêm mà không được chẩn đoán và điều trị hiệu quả có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, dễ gây nhầm lẫn với ung thư đại trực tràng. Vì vậy, cần thực hiện xét nghiệm tầm soát hằng năm để phát hiện bệnh viêm túi thừa đại tràng kịp thời.
Bệnh túi thừa đại tràngnếu không được chẩn đoán và điều trị sớm có thể để lại nhiều biến chứng nghiêm trọng, trong đó viêm túi thừa là biến chứng thường gặp nhất. Điều trị túi thừa đại tràng biến chứng có thể cần phải kết hợp điều trị nội khoa và phẫu thuật cắt bỏ túi thừa đại tràng.
Thoát vị bẹn chiếm khoảng 75% trong số các loại thoát vị thành bụng. Ống bẹn nằm ở vùng háng. Ở nam giới, tinh hoàn thường đi qua ống bẹn xuống bìu trong thời gian ngắn trước khi sinh. Ở nữ, ống bẹn là vị trí của các dây chằng tử cung.
Sỏi ống mật chủ (sỏi đường mật) là sự hiện diện của sỏi trong đường mật chính ngoài gan. Đường mật chính ngoài gan bao gồm ống gan phải và trái, ống gan chung và ống mật chủ.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.
Viêm thực quản là tình trạng viêm xảy ra ở mô thực quản - ống cơ đưa thức ăn từ miệng xuống dạ dày.
Viêm loét đại tràng là một bệnh viêm ruột, trong đó đường tiêu hóa bị viêm và có các vết loét. Ở bệnh viêm loét đại tràng, tình trạng viêm xảy ra ở lớp niêm mạc trong cùng của đại tràng (ruột già) và trực tràng, vì thế mà bệnh này còn được gọi là viêm loét đại trực tràng. Các triệu chứng của bệnh thường khởi phát và tăng dần theo thời gian chứ không xảy ra đột ngột.





