Viêm phổi đốm - bệnh viện 103
1. Đại cương:
- Viêm phổi đốm là tổn thương viêm cấp tính, còn được gọi là viêm phế quản phổi hay phế quản phế viêm.
- Nguyên nhân thường do vi khuẩn tụ cầu vàng.
- Chiếm khoảng 90% và hay gặp ở trẻ em từ 2 tháng tuổi trở lên.
Đặc điểm tổn thương
- Sảy ra ở cả phế quản và phế nang.
- Tổn thương thành từng ổ có giới hạn rõ, các ổ tổn thương xuất hiện dần dần kế tiếp nhau, tiến triển độc lập với nhau, do đó tổn thương của các ổ có thể nặng nhẹ khác nhau.
- Ngay trong trong mỗi ổ tổn thương cũng không đồng nhất mà có từng vùng tổn thương khác nhau.
2 . Tổn thương mô bệnh học.
Hình ảnh đại thể:
- Các ổ viêm thường nằm rải rác ở một thùy hoặc nhiều thùy, có khi xuất hiện trong nhu mô ở cả hai phổi, hay gặp ở mặt sau của thùy đáy.
- Hai phổi xưng, xung huyết. Mặt ngoài có những có các hạt viêm to nhỏ nổi lên, có màu đỏ xẫm hay màu vàng, nắn phổi thấy ổ viêm răn chắc, cứng , nếu bóp mạnh sẽ thấy tổ chức mủn nát đùn ra. Mặt cắt những ổ tổn thương nổi cao hơn, kích thước bằng hạt đỗ, hạt lạc, màu đỏ hơn tổ chức phổi lành, hơi rắn.
- Màu sắc các ổ viêm loang lổ, không giống nhau giữa các ổ viêm và ngay trong từng ổ viêm: đỏ xẫm, đỏ tím, nâu, hồng, vàng, vàng nhạt…xen kẽ nhau, ấn vào khối viêm thấy chảy ra một thứ dịch đục như mủ lẫn máu chảy ra, nếu cắt thả vào nước sẽ chìm.
- Màng phổi có thể vẫn bình thường hoặc có thể bị tổn thương viêm, đó là những đám tơ huyết hoặc đôi khi là mủ do ổ viêm vỡ vào hố phúc mạc gây nên.
Hình ảnh vi thể.
- Trung tâm ổ viêm hay giữa các hạt viêm là phế quản viêm mủ, lòng chứa nhiều dịch rỉ viêm tơ huyết, bạch cầu đa nhân thoái hóa và tế bào mủ, biểu mô phủ của phế quản có thể bị loét bong ra từng mảng. Thành phế quản phù, các mạch máu xung huyết và xâm nhiễm nhiều tế bào viêm bạch cầu đa nhân.
- Các phế nang quanh phế quản bị tổn thương tạo thành 3 vùng đồng tâm, từ trong ra ngoài gồm:
- Các phế nang viêm mủ nằm sát với phế quản viêm mủ, lòng phế nang chứa nhiều tế bào viêm và tế bào mủ, thành phế nang phù, các mạch máu xung huyết.
- Tiếp đến là các phế nang viêm tơ huyết: lòng phế nang chứa nhiều sợi tơ huyết và một số tế bào viêm.
- Ngoài cùng là các phế nang viêm xuất tiết: lòng chứa nhiều dịch phù và ít tế bào viêm.
3. Tiến triển.
Cũng giống như các bệnh nhiễm khuẩn khác, diễn biến cảu viêm phổi đốm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chủng vi khuẩn gây bệnh, đường lây, cơ địa bệnh nhân, thời gian mắc bệnh, chẩn đoán và điều trị…
Những bệnh tiên phát và vi khuẩn gây bệnh ít độc tính thì bệnh sẽ khỏi nhanh nếu điều trị tích cực. ở những cơ địa yếu và bệnh thứ phát thì tổn thương thường có diễn biến kéo dài, hay có các biến chứng và di chứng như.
- Áp xe phổi: là một tổn thương khư trú, áp xe phổi ở người lớn thường tiên phát, kích thước lớn và thường có một ổ, còn áp xe phổi ở trẻ em thường có nhiều ổ và có kích thước nhỏ, ổ áp xe có thể vỡ gây viêm màng phổi mủ, viêm màng tim mủ, hoại thư phổi hoặc khạc được mủ ra ngoài nếu ổ áp xe phổi được thông với phế quản.
- Xơ hoá phổi: có thể gây xơ cứng cục bộ ở phổi hoặc ở màng phổi đẻ lại những di chứng lâu dài và hầu như không hồi phục được.
- Giãn phế quản hay gặp ở những trường hợp viêm phổi đốm kéo dài, có ho nhiều và có liên quan nhiều tới các viêm mạn tính ở vùng mũi họng. Giãn phế quản ở trẻ em thường khư trú.
Các tổn thương xơ hoá phổi và giãn phế quản làm cho chức năng trao đổi oxy và bảo vệ của phổi bị suy giảm và dễ làm cho bệnh nhi sau này mắc một số bệnh của phổi như lao phổi , bệnh bụi phổi…
4. Liên hệ với lâm sàng.
- Triệu chứng lâm sàng ban đầu thường giống như viêm phế quản cấp tính. Khi bệnh tiến triển bệnh nhân thấy sốt cao, rét run, thở nhanh và khó thở, mạch nhanh, tím tái, đờm có bọt lẫn máu, mủ.
- Triệu chứng lâm sàng nghèo nàn, âm thầm, lặng lẽ hay gặp ở những cơ địa yếu như trẻ em đẻ non, còi xương, suy dinh dưỡng hoặc mắc một số bệnh mãn tính, do vậy bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng không điển hình nhưng tổn thương phổi lại rất nặng nề.
- Tuy nhiên trên hình ảnh X quang vẫn thấy rõ tổn thương của viêm phổi đốm. Triệu chứng lâm sàng rầm rộ, diễn biến nhanh hay sảy ra ở những trẻ bụ bẫm, mạnh khỏe.
Nguồn: Bệnh viện 103
Triệu chứng của các bệnh về đường hô hấp thường có tính tương đồng, điều này gây khó khăn và trở ngại trong quá trình chẩn đoán và điều trị.
Viêm phổi có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng thường xuất hiện vào mùa đông và mùa xuân, thường là sau khi bị nhiễm trùng hô hấp trên hoặc cảm lạnh. Nếu bạn cho rằng con của bạn có thể bị viêm phổi, hãy cho bé đi khám bác sĩ ngay.
Thuyên tắc phổi (PE) là tình trạng cục máu đông hình thành trong phổi do nhiều nguyên nhân. Phần lớn các trường hợp bị thuyên tắc phổi xuất phát từ huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), tình trạng cục máu đông hình thành trong các tĩnh mạch sâu của cơ thể.
Thuyên tắc phổi (PE) xảy ra khi một phần của cục máu đông từ tĩnh mạch sâu di chuyển đến phổi, gây tắc nghẽn mạch máu. Đây là một dạng của huyết khối tĩnh mạch (VTE).
Sau thuyên tắc phổi, bệnh nhân cần lưu ý về thời điểm bắt đầu và các bài tập thể dục phù hợp để đảm bảo an toàn.





