Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập227
  • Máy chủ tìm kiếm66
  • Khách viếng thăm161
  • Hôm nay56,683
  • Tháng hiện tại2,008,704
  • Tổng lượt truy cập36,773,932

Viêm phổi do virus - bệnh viện 103

1. ĐẠI CƯƠNG

1.1. Định nghĩa

Viêm phổi có thể do nhiều loại virus hô hấp gây ra, nhưng hay gặp do virus cúm và virus hợp bào hô hấp. Bệnh thường xuất hiện vào mùa lạnh ở những cộng đồng dân cư đông .

1.2. Nguyên nhân

ở trẻ em: viêm phổi virus thường do virus hợp bào hô hấp, virus cúm A và B. Phần lớn viêm phổi ở trẻ dưới 3 tuổi là do virus hợp bào hô hấp gây ra .

Đối với người lớn, nguyên nhân thường gặp là virus cúm A và B, adenovirus, virus phó cúm, virus hợp bào hô hấp, Hantavirus. Bệnh hay gặp hơn ở người mắc bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính. Virus cúm đã gây nhiều vụ dịch lớn trên thế giới với tỷ lệ tử vong cao. Có 3 typ virus cúm là A, B và C; trong đó virus cúm A hay gây đại dịch. Các chủng virus có thể thay đổi hàng năm .

Viêm phổi người lớn do virus ở cộng đồng thường do virus cúm A. Virus hợp bào hô hấp thường gây viêm phổi ở người già, người ghép tạng. Virus Herpes có thể gây viêm phổi ở người lớn khoẻ mạnh và người suy giảm miễn dịch .

Người ghép tạng, bệnh nhân mắc bệnh ác tính, điều trị hoá chất, suy dinh dưỡng hoặc bỏng nặng rất nhậy cảm với virus Herpes và virus thủy đậu. Viêm phổi do virus hợp bào hô hấp hay gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch, người ghép tủy xương và ghép thận, tỷ lệ tử vong cao, đồng thời hay bội nhiễm vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng đơn bào, trong đó hay gặp Pneumocystis carinii .

1.3. Giải phẫu bệnh lý

Tổn thương cơ bản là hoại tử, bong biểu mô phế quản và tăng tiết nhầy. Dịch nhầy và chất hoại tử tạo nên nút nhầy ở các tiểu phế quản. Nhu mô phổi bị tổn thương do viêm lan  từ tiểu phế quản sang vùng lân cận (tổ chức kẽ, phế nang). Sau một tuần, phế nang chứa đầy dịch tiết và bạch cầu. Thâm nhiễm lympho, mono

quanh phế quản, ở tổ chức kẽ khu vực ống tuyến nang và thành phế nang. Hạt vùi nội bào có thể thấy ở phế nang. Tế bào khổng lồ đa nhân có thể thấy ở tiểu phế quản-phế nang trong viêm phổi do virus sởi, phó cúm .

Nồng độ interferon ở phổi tăng cao trong thời điểm nồng độ virus trong cơ thể cao. Kháng thể đặc hiệu đối với virus xuất hiện ở đường hô hấp dưới vào ngày thứ ba. Lympho T độc tế bào cũng xuất hiện vào thời điểm này và phá huỷ những tế bào biểu mô bị nhiễm virus .

Bội nhiễm vi khuẩn Gram dương và âm rất hay gặp. Suy giảm đáp ứng miễn dịch và chức năng thực bào do nhiễm virus, tổn thương tế bào biểu mô đường thở, giảm thanh lọc vi khuẩn ở đường hô hấp dưới là những yếu tố tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển .

Xẹp tiểu thuỳ phổi có thể xảy ra do cơ chế van (tắc nghẽn thì thở ra). Viêm phổi do Adenovirus nặng ở trẻ em hay biến chứng giãn phế quản .

Đối với những trường hợp nặng (viêm phổi do adenovirus, virus hợp bào hô hấp, cúm): thâm nhiễm bạch cầu đơn nhân trong phế nang, hình thành màng hyalin, chảy máu trong phế nang .

2. Lâm sàng và cận lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng trùng lặp giữa các loại virus và các loại viêm phổi khác, không thể xác định căn nguyên bằng lâm sàng .

– Triệu chứng hô hấp:

  •  Ho khan là chính, nếu có đờm thường là đờm nhầy trong .
  •  Khám phổi thường không có triệu chứng thực thể .

– Triệu chứng ngoài phổi: đau cơ khớp, đau đầu, chảy mũi, sốt .

– Hình ảnh Xquang lồng ngực không đặc hiệu, khó phân biệt với viêm phổi do vi khuẩn. Những hình ảnh Xquang thường gặp:

  •  Dày thành phế quản .
  •  Bóng mờ quanh phế quản (hình ảnh gương mờ) .
  •  Các  tia  mờ quanh rốn phổi .
  •  Các nốt mờ có tính di chuyển .
  •  Ở trẻ em có thể gặp hình ảnh “khí cạm” (vùng tăng sáng), xẹp phổi (virus hợp bào hô hấp và virus khác), hạnh rốn phổi; hình ảnh lưới nốt (sởi) .
  •  Ở người lớn có thể thấy thâm nhiễm hai bên lan toả (trong hội chứng trụy hô hấp cấp ở người lớn) trong viêm phổi do virus cúm, Adenovirus .
  •  Tràn dịch màng phổi: có thể gặp trong viêm phổi do Adenovirus, phó cúm .

3. Chẩn đoán

Chẩn đoán viêm phổi do virus và xác định căn nguyên rất khó khăn .

– Chẩn đoán sơ bộ dựa vào lâm sàng và đặc điểm dịch tễ .

– Chẩn đoán xác định dựa vào phân lập virus, chẩn đoán huyết thanh:

  •  Phân lập virus: lấy bệnh phẩm ở giai đoạn sớm (khởi phát) bằng phương pháp rửa hầu-họng-mũi, quét tăm bông, hút qua khí quản, hút qua thành ngực, sinh thiết. Chuyển nhanh bệnh phẩm đến labo ở nhiệt độ âm 700C trong môi trường vận chuyển virus. Kết quả dương tính 60%, nhưng âm tính cũng không loại trừ viêm phổi virus. Trong nhiễm virus herpes, virus hợp bào hô hấp, adenovirus, do thời gian tiềm tàng kéo dài nên hay gặp âm tính giả .
  •  Chẩn đoán huyết thanh:

. Cố định bổ thể .

. Ngăn ngưng kết hồng cầu .

. Trung hoà .

. ELISA .

Hiệu giá kháng thể tăng 4 lần ở giai đoạn cấp tính  hoặc dưỡng bệnh, có dương tính giả .

Miễn dịch huỳnh quang: lấy tế bào niêm mạc họng bằng tăm bông hoặc dịch rửa; kết quả nhanh, đặc hiệu. Thường dùng trong chẩn đoán Cytomegalovirus và một số loại virus khác .

Chẩn đoán mô bệnh: bằng sinh thiết, tử thiết thấy hình ảnh hạt vùi trong tế bào  trong viêm phổi do Herpes,  Adenovirus .

4 Điều trị, dự phòng

– Điều trị triệu chứng: bổ sung nước và điện giải; hạ sốt; giảm đau; nghỉ ngơi, thở oxy, thuốc giãn phế quản .

– Điều trị đặc hiệu:

  •  Virus cúm: amantadin, rimantadin .
  •  Virus hợp bào hô hấp: khí dung ribavirin 20mg/ml nước trong 3-7 ngày .

– Dùng kháng sinh dự phòng bội nhiễm .

– Dự phòng: dùng vaccin cúm A, B cho đối tượng có bệnh tim mạch hoặc phổi mạn tính, bệnh nhân ở tình trạng suy giảm miễn dịch, đái tháo đường, bệnh thận mạn tính, người già tuổi trên 65 .

Nguồn: Bệnh viện 103

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây