Triệu chứng lâm sàng đau giữa đùi sau thay khớp háng toàn phần không xi măng - Bệnh viện Bạch Mai
Hình thể học xương đùi và đầu trên xương đùi rất khác nhau trên thực tế lâm sàng. Mục đích nghiên cứu là tìm mối liên quan giữa hình thể học đầu trên xương đùi và triệu chứng lâm sàng đau giữa đùi giai đoạn 3 tháng sau mổ thay khớp háng toàn phần lần đầu không xi măng. 40 bệnh nhân với 44 khớp háng toàn phần được thay liên liên tục trong khoảng thời gian từ 6/2006 đến tháng 3/2008.
Trước mổ tất cả các bệnh nhân được chụp X-quang và phân loại đầu trên xương đùi theo Dorr. Chúng tôi nhận thấy có sự liên quan giữa loại xương đùi và triệu chứng đau ở đùi sau mổ thay khớp háng toàn phần không xi măng giai đoạn sớm 3 tháng.
Đặt vấn đề
Thay khớp háng toàn phần (TKHTP) là một kỹ thuật chỉnh hình rất phổ biến hiện nay trên thế giới với khoảng 1,5 triệu khớp háng được thay hàng năm. Sau TKHTP cấu trúc xương xung quanh ổ cối và chuôi khớp nhân tạo có sự thay đổi. Phần xương đùi sẽ chịu tải theo cách hoàn toàn khác do lực tác dụng từ chuôi khớp phía trong ra phần vỏ xương bên ngoài.
Hình thể học đầu trên xương đùi và ống tuỷ xương đùi thường rất khác nhau và trên thực tế để có được sự tiếp xúc hoàn toàn giữa bề mặt của chuôi khớp không xi măng và màng trong xương là rất khó đạt được.
Philip C. Noble và cộng sự qua nghiên cứu 200 xương đùi trên xác đã nhận thấy sự khác biệt về hình học đầu trên xương đùi thông qua các số đo ống tuỷ, vỏ xương...tại nhiều khu vực khác nhau. Dorr L.D. và cộng sự dựa trên tỷ lệ độ dày của vỏ xương so với chiều rộng thân xương đùi (cortical index) phân loại xương đùi ra các loại A, B, C. Sau khi TKHTP bệnh nhân có thể có triệu chứng đau giữa đùi với các mức độ khác nhau.
Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu mối liên quan giữa hình thể học đầu trên xương đùi và triệu chứng lâm sàng đau ở đùi sau TKHTP không xi măng giai đoạn sớm 3 tháng sau phẫu thuật.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
40 bệnh nhân với 44 khớp háng toàn phần lần đầu không xi măng đã được thay tại khoa Ngoại Bệnh viện Bạch mai liên tục trong thời gian từ tháng 6/2006 đến tháng 3/2008.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: các bệnh nhân được TKHTP không xi măng sử dụng cùng 1 loại khớp và chuôi khớp không xi măng Versys Fiber Tapered (Zimmer, USA)
Không có biến chứng trong và sau mổ như gãy, nứt xương, nhiễm trùng...
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
Phương pháp thực hiện:
Trước mổ:
- Chụp X-quang tư thế thẳng, nghiêng lấy kích thước thật xương đùi
- Đo các chỉ số xương theo Dorr, Noble, phân loại xương đùi: A, B, C
Noble PC phân loại đầu trên xương đùi làm 3 loại dựa trên tỷ số độ rộng của ống tuỷ trên tâm của mấu chuyển nhỏ 2cm và phần dưới mấu chuyển nhỏ 10cm (gọi là canal flare index):
- Hình ống khói <3,0
- Bình thường 3.0 - 4,
- Hình nút champagne >4,7
Dorr L.D. và cộng sự dựa trên tỷ lệ độ dày của vỏ xương so với thân xương đùi (cortical index) phân loại xương đùi ra các loại A, B, C.
Loại A thường gặp ở nam, tuổi trẻ, nặng cân. Chất lượng xương tốt, vỏ xương dày, chỉ số vỏ xương cao trung bình 0,58 ± 0,01. Loại B cũng gặp nhiều ở nam hơn nữ, vỏ xương mỏng hơn loại A và chỉ số vỏ xương ở mức trung bình là 0,50 ±0 ,01. Loại C hay gặp ở phụ nữ cao tuổi, nhẹ cân, vỏ xương mỏng, chỉ số vỏ xương thấp trung bình 0,42 ± 0,01.
Phân loại của Noble và Dorr gần giống nhau, người ta hay sử dụng phân loại đầu trên xương đùi theo 3 loại A, B, C của Dorr.
Kỹ thuật mổ:
Tất cả các bệnh nhân được phẫu thuật theo cùng một kỹ thuật và một phẫu thuật viên:
- Tư thế bệnh nhân trong mổ: nằm nghiêng bên 90º.
- Đường mổ sau bên dài 9-12cm. Rạch cân và tách cơ mông lớn.
- Cắt chỗ bám tận của nhóm cơ chậu hông mấu chuyển, cắt bao khớp, làm trật khớp háng ra sau.
- Cưa cổ xương đùi theo đúng mức, bộc lộ doa ổ cối và đặt hõm không xi măng.
- Lấy xương vùng cổ xương đùi, dùi và doa ống tuỷ cho đúng kích cỡ của chuôi khớp phù hợp. Trong các trường hợp ống tuỷ rộng, loãng xương không cần thiết phải thực hiện kỹ thuật doa này vì loại chuôi sử dụng có cấu tạo cho cố định đầu gần.
- Mài giũa phần đầu trên xương đùi bằng các loại giũa từ số bé đến số to cho đến số phù hợp (từ số 10 cho đến số 17). Thử đặt khớp và kiểm tra vận động bằng khớp thử.
- Đặt chuôi khớp nhân tạo theo đúng kỹ thuật.
- Khâu phục hồi bao khớp, dây chằng, cân cơ. Đặt dẫn lưu và đóng vết mổ.
Sau 3 tháng
- Đánh giá triệu chứng đau ở đùi sau thay khớp theo bảng Pain Score:
- Không đau: không có triệu chứng gì
- Đau nhẹ: không phải dùng thuốc không ảnh hưởng đến vận độn
- Đau vừa: có dùng thuốc giảm đau nếu đi lại nhiều
- Đau nhiều: Liên tục dùng giảm đau, đi lại cần sự hỗ trợ
Xương đùi loại B chiếm tỷ lệ nhiều nhất với 59,1%. Loại A chiếm tỷ lệ 36,4% và loại C ít gặp nhất chỉ có 4,5%.
Không có bệnh nhân với triệu chứng đau nhiều ở đùi. Đa số là không có triệu chứng gì hoặc đau nhẹ không phải dùng thuốc, không ảnh hưởng đến vận động với các tỷ lệ tương ứng là 40,9% và 47,7%. Mức độ đau vừa có dùng thuốc giảm đau khi đi lại nhiều chiếm tỷ lệ 11,4%.
Bàn luận
- Loại xương đùi gặp chủ yếu là loại B chiếm tỷ lệ 59,1%, loại A 36,4%, loại C 4,5%.
- Tỷ lệ của chùng tôi có sự khác biệt so với nghiên cứu của Dorr L.D trên 52 bệnh nhân có kết quả loại xương đùi A 36,5%, loại B 32,7%, loại C 30,8%.
- Mức độ đau ở đùi sau mổ: chủ yếu là không đau, hoặc đau nhẹ không phải sử dụng thuốc giảm đau sau mổ với tỷ lệ 88,6%.
- Liên quan giữa mức độ đau ở đùi sau mổ 3 tháng và hình thể học xương đùi: có sự khác biệt vê mức độ đau giữa các nhóm xương đùi (p<0,05). Nhóm A với chất lượng xương tốt, vỏ xương dày sau mổ thường không có triệu chứng đau.
- Nhóm B với chất lượng xương trung bình thường có triệu chứng đau nhẹ. Nhóm C với chất lượng xương kém, vỏ xương mỏng không có bệnh nhân không đau sau mổ 3 tháng.
Dorr L.D. nghiên cứu 100 chuôi khớp APR không xi măng được thay liên tục, thời gian theo dõi 4 năm, với 38 xương đùi loại A, 43 loại B và 19 loại C nhận thấy đau ở đùi kéo dài ở bệnh nhân có xương đùi loại C.
Kết luận
Hình thể học xương đùi có ảnh hưởng đến triệu chứng lâm sàng đau ở đùi giai đoạn sớm sau mổ TKHTP không xi măng lần đầu.
- Các bệnh nhân có hình thể xương đùi loại A với chất lượng xương tốt, vỏ xương dày thường không có triệu trứng đau ở đùi sau mổ.
- Loại B thường xuất hiện đau nhẹ nhưng không phải dùng thuốc gì và không ảnh hưởng đến vận động.
- Loại C với chất lượng xương kém, vỏ xương mỏng nên có kết quả sau mổ kém hơn, tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi chưa có bệnh nhân với triệu chứng đau nhiều, ảnh hưởng đến vận động.
Nguồn tham khảo: Bệnh viện Bạch Mai
Xương đùi là xương lớn nhất và khỏe nhất trong cơ thể. Gãy thân xương đùi sẽ lâu liền hơn so với các xương khác. Gãy thân xương đùi sẽ gây ảnh hưởng lớn đến các hoạt động hàng ngày vì đây là một trong những xương chính giúp chúng ta đi lại.
Hoại tử vô khuẩn chỏm xương đùi ở trẻ em hay còn gọi là bệnh Legg-Calve-Perthes là tình trạng xảy ra khi sự lưu thông máu đến chỏm xương đùi (phần đầu của xương đùi) tạm thời bị gián đoạn và khiến cho mô xương bị chết.
Trật khớp háng bẩm sinh là thuật ngữ y khoa chỉ tình trạng chỏm xương đùi nằm lệch một phần hoặc hoàn toàn bên ngoài ổ khớp háng. Khớp háng có thể bị trật một bên hoặc cả 2 bên. Tình trạng này còn được gọi là loạn sản khớp háng.
Viêm khớp phản ứng là tình trạng viêm khớp xảy ra do nhiễm trùng ở một khu vực khác trong cơ thể. Đa phần, viêm khớp phản ứng là do các bệnh nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) hoặc nhiễm trùng do vi khuẩn ở đường ruột. Tình trạng viêm khớp thường xảy ra sau khi nhiễm trùng đã được điều trị khỏi.
Viêm khớp phản ứng là tình trạng sưng và đau khớp do nhiễm trùng ở một bộ phận khác của cơ thể, thường là ruột, bộ phận sinh dục hoặc đường tiết niệu.





