Tổng quan về bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD)- Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
I- Căn bản
A. Dịch tễ học
Độ xuất hiện
Ở trẻ em: tỷ lệ khoảng 1/300–1.000
Tỷ lệ mắc
- Tỷ lệ trào ngược dạ dày tá tràng (GERD): là 10–20% theo thống kê ở Mỹ
- Tỷ lệ mắc thực quản Barrett: 1,5%
- 65% người lớn bị chứng ợ nóng, trong đó 15% có triệu chứng xuất hiện thường xuyên (hàng tuần).
Yếu tố nguy cơ
- Béo phì
- Uống rượu
- Hút thuốc
- Uống cà phê
Di truyền học
Đã xác định được hiện tượng đa dạng gen (gene polymorphism) có thể ảnh hưởng đến sự di truyền bệnh
Phòng ngừa chung
- Liệu pháp tư thế ở trẻ em: Cho trẻ ngồi từ 2–3 giờ sau các bữa ăn; cho ăn thức ăn hơi đặc
- Tránh uống rượu, chất nicotine và caffein.
- Tránh nằm ngay sau khi ăn.
- Nâng cao đầu giường (15 cm)
B. Căn nguyên
Thường do thư giãn cơ LES không phù hợp:
- Thức ăn (thức ăn béo, thức ăn nhiều gia vị, chanh, chocolat, bạc hà, hành)
- Các loại thuốc men (thuốc đối kháng cholinergic, thuốc giãn cơ trơn, như các thuốc chặn kênh calcium, các thuốc thuộc nhóm nitrate)
Các yếu tố góp phần khác bao gồm:
- Có thai (các nội tiết tố thai nghén làm giảm áp lực của cơ LES)
- Nhu động ruột không hiệu quả
- Xơ cứng bì (scleroderma)
- Chậm làm rỗng dạ dày
- Tư thế: tư thế nằm, cúi gập người
- Béo phì
II-Chẩn đoán
A. Triệu chứng
- Nóng rát thượng vị (70–85%)
- Ợ ngược thức ăn đã tiêu hóa (60%)
- Đau ngực, dạng đau thắt ngực (33%)
- Đau bụng (29%)
- Khan tiếng (21%)
- Nuốt nghẹn các thức ăn đặc; trường hợp nuốt nghẹn cả thức ăn đặc lẫn lỏng thì nên nghĩ thêm đến các nguyên nhân khác (20%)
- Co thắt phế quản (hen suyễn) (15–20%)
- Sặc hít (14%)
- Ho mạn tính
- Hư tổn men răng
B. Bệnh sử
- Ợ nóng: nóng rát sau xương ức
- Ợ ngược, vị chua ở miệng
- Triệu chứng xảy ra khi cúi gập người hay nằm
- Các triệu chứng ngoài thực quản (như ho chẳng hạn)
- Chế độ ăn, rượu, hút thuốc, và thức uống có caffeine
- Chẩn đoán thường chỉ dựa trên bệnh sử là đủ, sau đó là thử điều trị trong một tuần bằng các phác đồ kháng acid
C. Chẩn đoán phân biệt
- Viêm thực quản nhiễm trùng (do nấm Candida, do các virus herpes, HIV, cytomegalovirus)
- Viêm thực quản do hóa chất (uống dung dịch kiềm)
- Viêm thực quản do thuốc
- Tổn thương do xạ trị
- Bệnh Crohn
- Cơn đau thắt ngực
- Chít hẹp thực quản
- Carcinoma thực quản
- Co thắt tâm vị (Achalasia)
- Xơ cứng bì
- Bệnh viêm loét tiêu hóa
III- Điều trị
A. Thuốc men
1. Thuốc hàng thứ I
Điều trị từng bước:
- Bước I: Thay đổi lối sống và chế độ ăn, kết hợp với thuốc ức chế H2 hoặc ức chế bơm proton PPI.
- Bước II: Nếu các triệu chứng vẫn tồn tại, nội soi để đánh giá
- Bước III: Phẫu thuật
Thuốc ức chế H2 dùng đường uống gồm:
- Cimetidine 800 mg ngày 2 lần hoặc 400 mg ngày 4 lần,
- Ranitidine 150 mg ngày 2 lần, hoặc
- Famotidine 20 mg ngày 2 lần, hoặc
- Nizatidine 150 mg ngày 2 lần.
Thuốc PPI:
- Omeprazole 20 mg/ngày
- Lansoprazole 30 mg/ngày
- Pantoprazole 40 mg/ngày
- Rabeprazole 20 mg/ngày
- Esomeprazole 40 mg/ngày
Đối với viêm trợt loét thực quản: Dùng PPI trong 8 tuần có hiệu quả lành loét trong 90% trường hợp. PPI có hiệu quả hơn các thuốc ức chế H2 trong điều trị viêm trợt loét thực quản.
Đối với trẻ em: Có thể dùng các thuốc kháng acid, thuốc ức chế thụ thể H2 dạng lỏng, omeprazole, metoclopramide
2. Thuốc hàng thứ II
Các thuốc kháng acid
Metoclopramide: 5–10 mg trước các bữa ăn chính
Thận trọng:
- Rối loạn huyết học khi sử dụng PPI hay thuốc ức chế thụ thể H2
- Cần điều chỉnh liều theo chức năng thận đối với thuốc ức chế H2.
- Metoclopramide là chất ức chế dopamine: nguy cơ gây rối loạn trương lực cơ và rối loạn vận động muộn
- Các thuốc PPI có thể gây giảm hấp thu B12, cần thường xuyên kiểm tra lượng B12 nếu dùng PPI kéo dài
B. Điều trị bổ sung
1. Các biện pháp chung
- Nâng cao đầu giường (15 cm) và tránh nằm ngay sau khi ăn.
- Tránh cúi đầu thấp, tránh mặc quần áo quá chật.
- Tránh dùng các thuốc gây giãn cơ thắt thực quản dưới (như các thuốc kháng cholinergic, thuốc ức chế kênh calcium).
- Nên giảm cân.
- Bỏ thuốc lá.
- Tránh uống rượu bia.
- Phẫu thuật mở hay nội soi cuộn đáy vị Nissen (Nissen fundoplication) giúp tăng chênh lệch áp suất giữa dạ dày và thực quản bằng cách cuộn đáy vị quanh thực quản xa, thường là giáp vòng (cuộn đáy vị 360 độ):
- Chỉ định: có bằng chứng tổn thương thực quản nặng, đáp ứng không hoàn toàn với điều trị nội, điều trị nội đã lâu và khả năng phải điều trị bằng thuốc lâu dài
- Cần loại trừ rối loạn vận động thực quản trước khi tiến hành phẫu thuật. Nếu có rối loạn vận động nên xem xét phẫu thuật cuộn đáy vị bán phần (270 độ, Toupet).
- Cả phẫu thuật mở và nội soi đều đạt kết quả tốt ở >90% trường hợp, hiệu quả giảm triệu chứng ngang nhau, cải thiện chất lượng sống, giảm nhu cầu dùng thuốc.
- Phân tích về chi phí/hiệu quả cho thấy nếu bệnh nhân cần điều trị >10 năm bằng PPI, thì can thiệp phẫu thuật sẽ có lợi hơn.
2. Đối với trẻ em
Phẫu thuật đối với các trường hợp nặng (ngưng thở, ngạt thở, nôn ói tiếp diễn)
Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn
Nhiều người cho rằng ợ nóng, trào ngược axit và trào ngược dạ dày thực quản (GERD) là cùng một vấn đề nhưng thực tế chúng không hoàn toàn giống nhau.
Trào ngược axit có thể xảy ra vào bất cứ thời điểm nào trong ngày. Tuy nhiên, hầu hết mọi người thường gặp các triệu chứng vào ban đêm.
Một số triệu chứng của viêm dạ dày cấp rất giống với triệu chứng của các vấn đề về sức khỏe khác nên nếu không đi khám thì rất khó xác định viêm dạ dày cấp.
Nếu cứ để tình trạng viêm dạ dày mạn tính tiếp diễn mà không có biện pháp điều trị thì sẽ có nguy cơ bị loét và xuất huyết dạ dày.





