Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập168
  • Máy chủ tìm kiếm57
  • Khách viếng thăm111
  • Hôm nay1,253
  • Tháng hiện tại1,802,654
  • Tổng lượt truy cập43,655,937

Tổng quan về bệnh động mạch vành - Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Biểu hiện bệnh động mạch vành

  • Đau thắt ngực là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất để nhận biết bệnh động mạch vành.

  • Đau có cảm giác bó chặt, thắt nghẹt, đè ép hay đôi khi chỉ là cảm giác có 1 cái gì đó khó chịu trong lồng ngực.

  • Vị trí đau hay gặp là sau xương ức, giữa ngực hoặc vùng tim.

  • Đau có thể tại chỗ hoặc lan lên cổ, hàm, vai hay cánh tay bên trái, ít trường hợp lan ra sau lưng hay vùng cột sống.

  • Cơn đau thường rất ngắn chỉ 10-30 giây hay 1 vài phút; nếu cơn đau kéo dài >15 phút là có khả năng đã bị nhồi máu cơ tim.

Phân loại

Hội chứng mạch vành cấp:

  • Gồm có đau thắt ngực không ổn định và nhồi máu cơ tim.
  • Xảy ra bất kỳ, cả lúc nghỉ ngơi hay khi gắng sức nhưng không đỡ khi ngừng gắng sức.
  • Cơn đau thắt ngực không ổn định sẽ tự hết hoặc sau khi dùng các thuốc nitroglycerin và có nguy cơ dễ chuyển thành nhồi máu cơ tim.
  • Nhồi máu cơ tim xảy ra khi 1 nhánh của động mạch vành bị tắc hoàn toàn với biểu hiện của cơn đau thắt ngực xuất hiện khi nghỉ, đau thường dữ dội, kéo dài và không hết sau khi dùng nitroglycerin.
  • Đau thắt ngực không ổn định rất nguy hiểm nếu không được xử trí kịp thời vì dễ chuyển thành nhồi máu cơ tim.
  • Dấu hiệu chủ yếu để phân biệt giữa đau thắt ngực ổn định và không ổn định là hoàn cảnh xảy ra đau thắt ngực: khi nghỉ hay khi gắng sức.
  • Nếu khi gắng sức với 1 mức độ nhất định nói lên tính chất ổn định, còn nếu xuất hiện khi nghỉ nói lên sự không ổn định và sẽ có nguy cơ chuyển nhồi máu hay đột tử.

Đau thắt ngực ổn định:

  • Là do mảng vữa xơ gây hẹp lòng động mạch vành, xuất hiện lặp đi lặp lại khi người bệnh gắng sức đạt đến 1 mức độ nào đó hay trong cùng 1 hoàn cảnh.

Xử trí

  • Trước hết là cần được nghỉ ngơi ngay lập tức, nghĩa là phải dừng ngay lập tức mọi loại gắng sức

  • Dùng thuốc nitroglycerin dạng ngậm hoặc xịt dưới lưỡi

  • Đến bệnh viện càng sớm càng tốt để có thể được chẩn đoán chính xác và điều trị kịp thời. 

Điều trị

Điều trị nội khoa

  • Là phương pháp điều trị bằng thuốc

  • Các thuốc chống kết vón tiểu cầu (Aspirin, Plavix)

  • Các thuốc ức chế thụ thể beta (như Tenormine, Betaloc…)

  • Các thuốc chẹn kênh calci (Amlordipin, Tildiazem…)

  • Các thuốc hạ cholesterol máu (nhóm Statin như Zocor, Crestor, Lipitor…)

  • Nhóm Fibrat (như Lipanthyl, Lopid…).

  • Chữa các yếu tố nguy cơ tim mạch, đặc biệt là bỏ thuốc lá

  • Điều trị tốt đái tháo đường và tăng huyết áp…

Điều trị can thiệp

  • Can thiệp động mạch vành qua da:dùng các dụng cụ chuyên biệt để nong đoạn động mạch vành bị hẹp, làm tái lưu thông trở lại bình thường đoạn động mạch vành bị hẹp mà không phải mổ.
  • Mổ bắc cầu nối: Dùng một đoạn động hoặc tĩnh mạch bắc cầu từ nguồn cấp máu qua vị trí động mạch vành tổn thương nối với đoạn động mạch vành phía sau đoạn hẹp; như vậy máu sẽ được cung cấp cho vùng cơ tim bị thiếu máu thông qua 1 cầu nối mới.

Phòng ngừa

  • Phải thay đổi các thói quen hay lối sống như: Bỏ thuốc lá (nếu hút thuốc); tập thể dục thường xuyên và thích hợp (tốt nhất là >1 giờ/ngày; ít nhất 3 ngày/tuần)

  • Tránh các stress (căng thẳng trong cuộc sống, công việc); ăn giảm muối, không ăn mỡ và các phủ tạng động vật (đặc biệt là lòng hay dạ dày lợn…); hạn chế ăn nhiều đồ ngọt, tránh tăng cân.

  • Điều trị tốt một số bệnh lý có liên quan trực tiếp đến bệnh động mạch vành như: Đái tháo đường; tăng huyết áp; rối loạn lipid máu và béo phì.

  • Tuân thủ tốt các hướng dẫn điều trị, đặc biệt với các bệnh nhân cần dự phòng tái phát bệnh.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây