Chúng tôi trên mạng xã hội
    Tìm chúng tôi trên:
  •  
  •  

moi quang cao

Thống kê
  • Đang truy cập317
  • Máy chủ tìm kiếm63
  • Khách viếng thăm254
  • Hôm nay69,782
  • Tháng hiện tại2,135,712
  • Tổng lượt truy cập39,563,334

TÌm hiểu một số rối loạn của thực quản và dạ dày- Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

1. Các bệnh dạ dày thực quản được phân biệt với bệnh nhồi máu cơ tim cấp tính như thế nào?

  • Cơn đau do thực quản hay dạ dày có thể xuất hiện dưới dạng cơn đau ngực hoặc đau bụng trên và nôn mửa, khó phân biệt được với cơn đau và nôn do thiếu máu cục bộ hay nhồi máu cơ tim (myocardial ischemia or infarction)
  • Việc mô tả cơn đau, sự xác định các yếu tố nguy cơ tim và sự sử dụng thích hợp một điện tâm đồ nơi các bệnh nhân trưởng thành với cơn đau loại nội tạng hay các yếu tố nguy cơ tim, làm giảm thiểu những sai lầm lâm sàng.
  • Nitroglycerin, các chất kháng axit (antacids là những can thiệp điều trị chứ không phải là những trắc nghiệm chẩn đoán. Các bệnh nhân với co thắt thực quản (esophageal spasm) có thể đáp ứng với nitroglycerin và các chất kháng axit…có thể mang lại lợi ích kiểu placebo cho những bệnh nhân với thiếu máu cục bộ tim (cardiac ischemia).

2. Ợ nóng (Heartburn) là gì ?

  • Đau bỏng sau xương ức (retrosternal burning discomfort), có thể lan tỏa ra hai bên ngực, cổ hay hàm. Sự mô tả cơn đau có thể tương tự với cơn đau của thiếu máu cục bộ tim.
  • Ợ nóng (heartburn) là triệu chứng đặc trưng của viêm thực quản do hồi lưu (reflux esophagitis) và thường được làm nặng thêm bằng cách nghiêng mình ra trước hoặc nằm ngửa ngay sau bữa ăn.
  • Cơn đau có thể được làm giảm bởi tư thế thẳng đứng, bởi chất dịch (gồm nước miếng và nước), hoặc, đáng tin cậy hơn, bởi các chất kháng axít (antacids).
  • Ợ nóng (heartburn) có lẽ là do tính nhạy cảm được gia tăng của niêm mạc và có thể gây nên bằng cách truyền hydrochloric acid pha loãng (trắc nghiệm Berstein) vào trong thực quản.

3. Viêm thực quản do trào ngược (reflux esophagitis) được điều trị như thế nào ?

  • Ngoài các chất kháng axít (antacids), các biện pháp tổng quát gồm có nâng cao đầu giường lên (4 inches), làm giảm thể trọng, và loại bỏ các yếu tố làm gia tăng áp lực trong bụng.
  • Các bệnh nhân nên tránh rượu, chocolate, cà phê, các thức ăn béo, bạc hà, nước cam vắt, hút thuốc, ăn và uống những lượng lớn và vài thứ thuốc (anticholinergics hay calcium channel blockers).
  • Các chất kháng axit sau các bữa ăn và H2-blockers (thí dụ Zantac, Axid) trước khi ngủ thường hữu ích. Các trường hợp đề kháng có thể đáp ứng với sucralfate (Ulcogant) dùng trước các bữa ăn và metoclopramide (10 mg bốn lần mỗi ngày).
  • Điều trị cần được tiếp tục trong 6 tháng và bệnh có thể tái phát nhanh chóng.

4. Nguyên nhân thực quản của nuốt đau?

  • Nuốt đau (odynophagia) là một đặc điểm của viêm thực quản không phải do nguyên nhân trào ngược. Viêm thực quản do nhiễm trùng (infectious esophagitis) là một nguyên nhân thông thường và thường xảy ra nơi những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch và có thể do nấm (ví dụ candida), siêu vi trùng ( ví dụ herpes, cytomegalovirus), vi khuẩn (ví dụ lactobacillus, beta-hemolytic streptococcus), hay ký sinh trùng.
  • Những loại viêm thực quản không do trào ngược khác gồm có bức xạ (radiation), chất ăn mòn (corrosive), thuốc, và vài bệnh toàn thân (ví dụ bệnh Behçet, bệnh Crohn, pemphigus vulgaris, hội chứng Stevens-Johnson).
  • Chứng nuốt đau không phai là triệu chứng thông thuờng trong viêm thực quản trào ngược (reflux esophagitis) nhưng có thể xảy ra với loét thực quản (thực quản Barrett).

5. Những nguyên nhân đau bụng có nguồn gốc dạ dày hay tá tràng?

  • Khoảng 10% các trường hợp đau bụng được thấy ở phòng cấp cứu là do bệnh của dạ dày hay tá tràng.Viêm dạ dày và bệnh loét dạ dày-tá tràng do axit (peptic ulcer disease) là nguyên nhân của hầu hết các bệnh nhân  đau bụng thứ phát do bệnh dạ dày hay tá tràng.
  • Bệnh thủng ổ loét dạ dày tá tràng, xoắn (volvulus) dạ dày là hai nguyên nhân nghiêm trọng nhất, đòi hỏi chẩn đoán và điều trị tức thời.

6. Các nguyên nhân thông thường của viêm dạ dày và loét dạ dày - tá tràng

  • Viêm dạ dày có liên quan với rượu, salicylates, NSAID (nonsteroidal antiinflammatory drug) và thoát vị khe (hiatal hernia).
  • Bệnh loét dạ dày - tá tràng có liên hệ với bệnh sử gia đình, bệnh liên kết (ví dụ bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính : chronic obstructive pulmonary disease), xơ gan, suy thận mãn tính), giới tính nam, lớn tuổi, và hút thuốc.
  • Việc sử dụng một vài loại thuốc, như aspirin và NSAID, và profile tâm lý có thể liên quan với bệnh loét dạ dày tá tràng, nhưng chế độ ăn uống (ví dụ cà phê và các đồ ăn cay) và rượu thì không. Helicobacter pylori đã được chứng tỏ là nguyên nhân  của nhiều loét tá tràng.

7. Triệu chứng của thủng ổ loét dạ dày - tá tràng?

  • Thủng ổ loét dạ dày tá tràng (và xoắn dạ dày) bắt đầu với cơn đau khởi phát đột ngột, có thể hoặc không liên quan đến bữa ăn. Cơn đau thường hiện diện thường xuyên và đề kháng với các chất kháng axít ; cơn đau thường lan ra sau lưng nhưng cũng có thể lan ra ngực và bụng trên. Nôn mửa thường hiện diện trong khoảng 50% các trường hợp .
  • Lúc khám vật lý bệnh nhân có vẻ suy kiện cấp tính và thường có tim đập nhanh. Huyết áp có thể cao do đau đớn hoặc giảm do mất dịch lan rộng vì viêm phúc mạc toàn thể. Bệnh nhân thường nằm im và tránh cử động . Cơ thành bụng đề kháng, nhạy cảm đau dội ngược (rebound tenderness), và thành bụng co cứng là những dấu hiệu thường thấy. Nhu động ruột thường vắng hoặc giảm nhiều.
  • Xét nghiêm có thể cho thấy tăng bạch cầu không đặc hiệu (40% các trường hợp có đếm bạch cầu > 14.000/mm3). Nếu mửa nhiều, có thể thấy nhiễm kiềm chuyển hóa giảm clo-huyết, giảm-kali huyết (hypochloremic, hypokalemic metabolic alkalosis). Một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân có thể có tăng nhẹ amylase và lipase. Khí tự do (free air) có thể hiện diện trên hình chụp ngực thẳng đứng hay chụp bụng nằm nghiêng về phía trái trong 70% các trường hợp.

8.Xếp loại nguy cơ các bệnh nhân xuất huyết dạ dày-ruột?

 

Nguy cơ thấp
Tuổi < 60
- Huyết áp thu tâm ban đầu > hay = 100 mmHg.
- Các dấu hiệu sinh tồn bình thường trong một giờ.
- Không cần truyền máu.

 

- Không có các bệnh quan trọng kèm theo.

- Không có bệnh gan.

 

- Không có các đặc điểm
 

Nguy cơ trung bình
Tuổi > 60
- Huyết áp thu tâm ban đầu < 100 mmHg.
- Tim đập nhanh nhẹ và liên tục trong 1 giờ.
- Cần truyền máu hay = hay < 4 đơn vị.
- Các bệnh quan trọng kèm theo ổn định.

- Bệnh gan nhẹ – PT bình thường hoặc gần bình thường

- Không có các đặc điểm lâm sàng nguy cơ cao

Nguy cơ cao

- Huyết áp thu tâm < 100 mmHg kéo dài.

- Tim đập nhanh vừa phải-nặng, kéo dài.

- Cần tuyền máu trên 4 đơn vị

- Các bệnh quan trọng kèm theo không ổn định.

- Bệnh gan mất bù - bệnh đông máu, cổ trướng, bệnh não.

Tuổi trên 60, nhịp tim < 100 đập/phút, huyết áp tâm thu < 100 mmHg, máu đỏ tươi trong chất mửa hoặc phân, hoặc sự hiện diện của các bệnh xảy kèm theo, tất cả đặt bệnh nhân trong nhóm có nguy cơ cao.

9. Những tiêu chuẩn nguy cơ thấp nào cho phép một bệnh nhân bị xuất huyết dạ dày- ruột trên được cho xuất viện về nhà?

  • Không có bệnh lý kèm theo
  • Các dấu hiệu sinh tồn bình thường
  • Thử phân tìm máu ẩn bình thường hay dương tính vết
  • Dịch hút dạ dày âm tính, nếu được thực hiện
  • Hemoglobin và hematocrit bình thường hoặc gần bình thường
  • Vấn để hỗ trợ gia đình không có vấn đề.
  • Thông hiểu thích đáng các triệu chứng và dấu chứng của xuất huyết quan trọng.
  • Đến ngay cấp cứu nếu cần thiết
  • Theo dõi trong vòng 24 giờ.

Nguồn: Bệnh viện Hoàn Mỹ Sài Gòn

Thành viên
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây